Ior leukocim - Thuốc - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "Thấy bệnh dễ chữa nói dối là khó chữa, dọa người ta sợ để lấy nhiều tiền, đó là tội lừa dối. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

QuocBaoNet

Ior leukocim

Cho điểm
  • Ior leukocim
ior LeukoCIM
Nhà sản xuất
CIM
Nhà phân phối
Nam Dong Pharma
Thành phần
Mỗi ống 1ml: Filgrastim 300mcg.
Mô tả
Filgrastim là yếu tố kích thích tạo bạch cầu hạt ở người. Ior LeukoCIM là tên biệt dược của Filgrastim. Filgrastim (r-metHuG-CSF), được sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp DNA bởi trung tâm miễn dịch phân tử (CIM) Cu ba. Ior LeukoCIM là một protein tinh chế không glycosyl hóa gồm 175 acid amin với trọng lượng phân tử 18.000D. Ior LeukoCIM được sản xuất bởi vi khuẩn Escherichia coli (E.Coli) đã chuyển gen sản xuất G-CSF của người.
Tác Động
G-CSF (Filgrastim) là một glycoprotein có tác dụng trên những tế bào tạo máu bằng cách gắn vào những thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào và kích thích sự sản xuất, biệt hóa và hoạt hóa chức năng tế bào trưởng thành.
G-CSF (Filgrastim) nội sinh là yếu tố kích thích sự sản xuất dòng tế bào đặc hiệu, nó được sản xuất bởi các bạch cầu đơn nhân, sợi nguyên bào, và các tế bào nội mạc. Ior Leukocim chứa r-metHuG-CSF có tác dụng điều hòa sản xuất bạch cầu trung tính trong tủy xương, tác động đến sự sinh sản và biệt hóa tế bào bạch cầu trung tính non, hoạt hóa chức năng của tế bào trưởng thành một cách chọn lọc (bao gồm khả năng thực bào, tăng cường sự chuyển hóa tế bào gắn với tăng cường hô hấp tế bào, tiêu diệt kháng nguyên, và tăng cường một số chức năng gắn với kháng nguyên bề mặt tế bào). Filgrastim có tác động tối thiểu đối với sự sản sinh các tế bào tạo máu khác in-vivo hoặc in-vitro mà không phải là tế bào bạch cầu trung tính.
Dược lực
- Bệnh nhân ung thư điều trị với hoá trị liệu ức chế tủy
Chứng giảm bạch cầu trung tính và nhiễm trùng là những tác dụng phụ làm hạn chế hiệu quả tác dụng của hóa trị liệu. Những nguy cơ về nhiễm trùng tiên phát và những biến chứng sau đó có liên quan trực tiếp đến mức độ và thời gian giảm bạch cầu trung tính. Mức độ nghiêm trọng của chứng giảm bạch cầu trung tính phụ thuộc vào mức độ điều trị với hóa trị liệu.
Filgrastim đã chứng tỏ sự an toàn và hiệu quả của nó trong việc thúc đẩy sự hồi phục số lượng bạch cầu trung tính sau hàng loạt chế độ hóa trị liệu. Lợi ích của biện pháp điều trị này đã được chứng tỏ trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng, giảm thời gian nằm viện, giảm sử dụng kháng sinh do giảm bạch cầu trung tính.
- Bệnh nhân ung thư bạch cầu cấp dòng tuỷ điều trị bởI hoá trị liệu hoặc hoá trị liệu củng cố
Về cơ bản tất cả những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp dòng tủy đều được điều trị hóa chất và hầu hết những bệnh nhân này cần được điều trị tăng cường và củng cố. Trường hợp có tăng sốt thì phải nhập viện và truyền kháng sinh cho đến khi có sự khôi phục bạch cầu trung tính.
Điều trị với Filgrastim làm giảm đáng kể thời gian khôi phục số lượng tuyệt đối bạch cầu trung tính (ANC), khoảng thời gian sốt, thời gian sử dụng kháng sinh và thời gian nằm viện sau hóa trị liệu. Không có báo cáo về tác động của Filgrastim đến tỷ lệ giảm hoàn toàn, khỏi bệnh, thời gian tiến triển hoặc sống sót.
- Bệnh nhân ung thư được ghép tủy
Những biến chứng chủ yếu của hóa trị liệu liều cao được hỗ trợ bởi cấy ghép tủy xương tự thân là những bệnh nhiễm trùng tái phát, cần truyền máu và tiểu cầu, ghép trì hoãn hoặc không đầy đủ, tổn thương do cắt tủy, việc nằm viện kéo dài và chi phí đIều trị cao… điều này cũng thường thấy ở những bệnh nhân ghép tủy đồng loại.
Filgrastim được chỉ định cho cả hai trường hợp ghép tủy đồng loại và ghép tủy tự thân để làm giảm các biến chứng nghiêm trọng của bệnh nhiễm trùng, do đó làm giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí đIều trị, và cải thiện chất lượng cuộc sống.
- Thu thập tế bào nguồn máu ngoại vi điều trị ở bệnh nhân ung thư
Huy động tế bào nguồn ở máu ngoại vi thay cho ghép tủy. Những phản ứng phụ chủ yếu là sự giảm số lượng tiểu cầu và các yếu tố khác của hệ tạo máu.
Filgrastim có tác dụng huy động những tế bào nguồn ở máu ngoại vi vào hệ tuần hoàn, làm giảm tần xuất, thời gian và chi phí cho thủ thuật gạn bạch cầu khôi phục tốc độ tạo máu tiềm tàng và giảm thời gian phải nằm viện.
- Những bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mãn nghiêm trọng
Giảm bạch cầu trung tính nghiêm trọng (tự phát, theo chu kỳ, bẩm sinh) có đặc điểm là sự giảm có chọn lọc số lượng bạch cầu trung tính ở hệ tuần hoàn và khả năng bị nhiễm trùng tăng lên.
Filgrastim đã chứng tỏ sự an toàn và tính hiệu quả làm tăng bạch cầu trung tính và giảm nguy cơ nhiễm trùng ở những bệnh nhân được điều trị.
Chỉ định
- Bệnh nhân ung thư điều trị với hóa trị liệu ức chế tủy
Ior LeukoCIM được chỉ định cho những bệnh nhân bị ung thư không phải dòng tủy đang được điều trị bằng thuốc chống ung thư ức chế tủy có xuất hiện việc giảm đáng kể tỷ lệ bạch cầu trung tính và sốt. Cần phải xác định công thức máu toàn bộ và đếm tiểu cầu trước khi dùng hóa trị liệu 2 lần mỗi tuần trong thời gian dùng Ior LeukoCIM để tránh chứng tăng bạch cầu và theo dõi số lượng bạch cầu trung tính. Nên ngừng dùng Ior LeukoCIM khi ANC ≥ 10.000/mm3 sau khi điểm thấp nhất của bạch cầu trung tính đã qua theo dự kiến.
- Bệnh nhân ung thư bạch cầu cấp dòng tủy điều trị bởi hóa trị liệu hoặc hóa trị liệu củng cố
Ior LeukoCIM được chỉ định để làm giảm thời gian khôi phục bạch cầu trung tính, sốt sau khi điều trị, bắt đầu điều trị hoặc điều trị củng cố ở người lớn bị bệnh bạch cầu cấp dòng tủy.
- Bệnh nhân ung thư được cấy ghép tủy
Ior LeukoCIM được chỉ định làm giảm thời gian giảm bạch cầu trung tính và những dấu hiệu lâm sàng liên quan đến giảm bạch cầu trung tính, sốt ở những bệnh nhân ung thư không phải dòng tủy đang chịu hóa trị liệu ức chế tủy và sau đó là ghép tủy.
Việc theo dõi công thức máu cần làm ở mức tối thiểu 3 lần mỗi tuần sau khi tiêm tủy để theo dõi sự hồi phục tủy.
- Những bệnh nhân trong giai đoạn thu thập tế bào nguồn và điều trị
Ior Leukocim được dùng để huy động tế bào nguồn máu vào máu ngoại vi để thu thập bằng thủ thuật gạn bạch cầu. Sự huy động cho phép thu được số lượng tế bào nguồn tăng có thể ghép sau khi dùng hóa trị ức chế tủy.
- Những bệnh nhân mắc chứng giảm bạch cầu mãn nghiêm trọng
Ior LeukoCIM được chỉ định dùng lâu dài để giảm tỷ lệ và khoảng thời gian của hậu quả của chứng giảm bạch cầu trung tính (như: sốt, nhiễm trùng, loét miệng hầu) ở những bệnh nhân có triệu chứng giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh, giảm bạch cầu theo chu kỳ, hoặc giảm bạch cầu trung tính tự phát.
Kiểm tra công thức máu và đếm tiểu cầu là cần thiết, việc đánh giá hình thái học tủy xương và kiểu nhân tế bào cần phải được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị với Ior LeukoCIM. Dùng Ior LeukoCIM trước khi xác định chứng giảm bạch cầu trung tính có thể ảnh hưởng xấu tới việc chẩn đoán và do đó có thể gây khó khăn cho việc đánh giá và điều trị nguyên nhân gây ra chứng giảm bạch cầu trung tính.
- Sử dụng cho trẻ em mắc chứng giảm bạch cầu trung tính và ung thư
Ior LeukoCIM được chỉ định điều trị những bệnh đã nêu trên ở trẻ em. Hiệu quả điều trị và sự an toàn cũng giống như ở người lớn.
Liều dùng
Bệnh nhân ung thư được điều trị với hóa trị liệu ức chế tủy:
Liều khởi đầu được khuyến cáo là 5 mcg/kg/ngày, tiêm 1 lần hằng ngày bằng cách tiêm dưới da. Nên xác định công thức máu toàn bộ và đếm tiểu cầu trước khi dùng Ior LeukoCIM đồng thời theo dõi công thức máu 2 lần mỗi tuần trong thời gian điều trị.
Có thể tăng liều theo mức tăng 5 mcg/kg cho mỗi đợt điều trị hóa chất theo khoảng thời gian điều trị và điểm thấp nhất của số lượng tuyệt đối bạch cầu trung tính.
Nên dùng Ior LeukoCIM hàng ngày trong khoảng thời gian 2 tuần, cho đến khi số lượng tuyệt đối bạch cầu trung tính đạt 10.000/mm3 sau khi qua điểm thấp nhất dự kiến do hóa trị liệu. Thời gian điều trị với Ior LeukoCIM phụ thuộc vào tiềm năng ức chế tủy của hóa trị liệu được áp dụng. Nên ngừng điều trị với Ior LeukoCIM nếu ANC vượt 10.000 sau khi bạch cầu trung tính qua mức thấp nhất do hóa trị liệu dự kiến.
Bệnh nhân ung thư được ghép tủy:
Liều Ior LeukoCIM được khuyến cáo sau khi ghép tủy là 10 mcg/kg/ngày được truyền tĩnh mạch trong 4 hoặc 24 giờ. Nên dùng liều Ior LeukoCIM đầu tiên ít nhất là 24 giờ sau khi dùng hóa trị liệu độc tế bào và ít nhất là 24 giờ sau khi ghép tủy.
Trong khoảng thời gian hồi phục bạch cầu trung tính, liều hằng ngày của Ior LeukoCIM nên được xác định theo sự đáp ứng bạch cầu trung tính như sau:
Khi ANC > 1000/mm3 trong 3 ngày liên tiếp, nên giảm liều Ior LeukoCIM xuống 5 mcg/kg/ngày. Nếu ANC vẫn > 1000/mm3 trong 3 ngày liên tiếp hoặc lâu hơn sau khi giảm liều, nên ngừng điều trị với Ior LeukoCIM.
Nếu ANC giảm xuống thấp hơn 1000/mm3 thì nên tiếp tục điều trị với liều 5 mcg/kg/ngày.
Nếu ANC giảm xuống dưới 1000/mm3 vào bất cứ thời điểm nào trong thời gian dùng Ior LeukoCIM với liều 5 mcg/kg/ngày thì liều Ior LeukoCIM nên được tăng lên 10 mcg/kg/ngày, và giảm liều trong các trường hợp như đã được nêu trên.
Thời gian điều trị với Ior LeukoCIM được khuyến cáo trong vòng 14 ngày.
* Thu thập tế bào nguồn ở máu ngoại vi và điều trị cho bệnh nhân ung thư:
Liều Ior LeukoCIM được khuyến cáo cho việc huy động PBPC là 10 mcg/kg/ngày tiêm dưới da. Nên dùng Ior LeukoCIM ít nhất 4 ngày trước khi thực hiện thủ thuật gạn bạch cầu. Nên theo dõi số lượng bạch cầu trung tính sau 4 ngày điều trị với Ior LeukoCIM đồng thời cân nhắc việc điều chỉnh liều Ior LeukoCIM đối với những bệnh nhân mà bạch cầu > 100.000/mm3.
Ior LeukoCIM dùng trong vòng 6 đến 7 ngày và việc tiến hành thủ thuật gạn bạch cầu vào các ngày 5, 6, 7 là an toàn và hiệu quả.
* Những bệnh nhân mắc chứng giảm bạch cầu mãn nghiêm trọng:
Cần phải dùng hàng ngày lâu dài để duy trì những lợi ích lâm sàng. Người ta không sử dụng số lượng tuyệt đối bạch cầu trung tính như một chỉ số duy nhất đánh giá hiệu quả của thuốc. Nên điều trị theo quá trình điều trị lâm sàng trên từng bệnh nhân cũng như ANC.
Liều trung bình hàng ngày là 6 mcg/kg (giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh), 2,1 mcg/kg/ngày (giảm bạch cầu trung tính theo chu kỳ), và 1,2 mcg/kg/ngày (giảm bạch cầu trung tính tự phát). Trong một số ít những trường hợp cá biệt những bệnh nhân mắc chứng giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh đòi hỏi liều Ior LeukoCIM ≥ 100 mcg/kg/ngày.
* Những bệnh nhân bị ung thư bạch cầu cấp dòng tủy bắt đầu điều trị hoặc dùng hóa trị liệu củng cố:
Nên dùng Ior LeukoCIM với liều 5 mcg/kg/ngày tiêm dưới da. Nên dùng liều Ior LeukoCIM đầu tiên ít nhất 24 giờ sau khi dùng hóa trị liệu độc tế bào. Nên ngừng dùng Ior LeukoCIM nếu ANC vượt quá 10.000/mm3 sau khi qua điểm thấp nhất dự kiến của số lượng tuyệt đối bạch cầu trung tính do tác động của hóa trị liệu hoặc trong tối đa 35 ngày.
Hướng dẫn pha thuốc
Sản phẩm thuốc tiêm nên được kiểm tra bằng mắt thường xem có cặn hay sự biến màu của dung dịch thuốc trước khi dùng hay không.
Sử dụng kỹ thuật vô khuẩn, gắn kim vào xi lanh. Tháo nắp nhựa trên lọ thuốc chứa Ior LeukoCIM, làm sạch nút cao su bằng thuốc tẩy trùng. Chọc kim tiêm vào trong lọ thuốc, rút vào xi lanh lượng thuốc thích hợp.
Nếu cần thiết, có thể hòa Ior LeukoCIM vào dung dịch Dextrose 5%. Nên pha loãng Ior LeukoCIM với nồng độ từ 5-15mcg/ml, bảo vệ dung dịch thuốc khỏi sự hấp phụ vào vật liệu Plastic bằng cách thêm Albumin (người) vào dung dịch thuốc tiêm sao cho nồng độ cuối cùng đạt 2mg/ml. Khi hòa trong dung dịch Dextrose 5% hoặc Dextrose 5% có thêm Albumin (người) Ior LeukoCIM tương tác với các vật liệu làm từ thủy tinh và Plastic.
Không được pha loãng nồng độ của Ior LeukoCIM thấp hơn 5mcg/ml.
Cảnh báo
Không được hòa thuốc trong dung dịch muối vì thuốc có thể bị kết tủa. Không được lắc mạnh dung dịch trong ống. Lắc mạnh có thể phá hủy đặc tính hóa học của glycoprotein và ảnh hưởng đến hoạt tính sinh học của thuốc.
Quá Liều
Liều dung nạp tối đa của Ior LeukoCIM vẫn chưa được xác định, người ta cũng chưa xác định được những ảnh hưởng của việc sử dụng quá liều Ior LeukoCIM.
Chống chỉ định
Ior LeukoCIM chống chỉ định ở những bệnh nhân đã được biết là mẫn cảm với Protein có nguồn gốc từ E.coli, Filgrastim, hay bất cứ thành phần nào của thuốc.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Người ta không biết liệu thuốc có an toàn cho phụ nữ có thai không. Những nghiên cứu trên động vật cho thấy không có bất thường bên ngoài. Chỉ nên dùng Ior LeukoCIM nếu những lợi ích tiềm tàng được chứng minh so với những nguy cơ có thể xẩy ra đối với thai nhi. Người ta cũng chưa biết liệu Ior LeukoCIM có bài tiết qua sữa mẹ hay không, vì nhiều loại thuốc bài tiết qua sữa mẹ, nên không nên sử dụng Ior LeukoCIM cho phụ nữ đang cho con bú.
Tương tác thuốc
Người ta chưa xác định được độ an toàn và hiệu quả của Ior LeukoCIM khi dùng đồng thời với hóa trị liệu ức chế tủy độc. Không nên dùng Ior LeukoCIM trong khoảng thời gian 24 giờ trước và sau khi dùng hóa trị liệu độc tế bào. Tương tác thuốc giữa Ior LeukoCIM và các thuốc khác chưa được đánh giá đầy đủ. Những thuốc có thể có tiềm năng phóng thích bạch cầu trung tính như lithium nên được sử dụng một cách thận trọng.
Tác dụng ngoại ý
Dùng Ior LeukoCIM ở liều khuyến cáo có kèm theo đau tủy xương nhìn chung được ghi nhận từ nhẹ đến trung bình và có thể được kiểm soát ở hầu hết những bệnh nhân với thuốc giảm đau non-narcotic ở liều thông thường.
Hội chứng khó đi tiểu từ nhẹ đến trung bình và giảm huyết áp tạm thời là những tác dụng phụ thứ 2, ít được báo cáo hơn và không cần phải điều trị.
Sự tăng acid uric, lactate dehydrogenase và alkaline phosphatase phụ thuộc vào liều dùng và có thể tự hồi phục trong khi dùng Ior LeukoCIM.
Số lượng tế bào bạch cầu 100.000/mm3 hoặc lớn hơn đã được quan sát ở một số bệnh nhân điều trị với Filgrastim với liều trên 3mcg/kg/ngày. Cho đến nay chưa có những ghi nhận về tác dụng phụ của thuốc gắn liền với mức tăng bạch cầu này.
Những tác dụng phụ do hóa trị liệu: buồn nôn, nôn, rụng tóc, tiêu chảy, chán ăn, sốt, mệt mỏi,... đau đầu, táo bón, nổi mẩn da, ho, đau ngực không bị tăng thêm khi điều trị bằng Ior LeukoCIM.
Hiếm có những ghi nhận viêm mạch da ở những bệnh nhân được điều trị với Ior LeukoCIM. Những triệu chứng viêm mạch nhìn chung bị tăng đồng thời với việc tăng số lượng tế bào bạch cầu trung tính toàn bộ.
Thận Trọng
- Dùng đồng thời với hóa trị liệu và xạ trị:
Tính an toàn và hiệu quả của Ior LeukoCIM khi dùng đồng thời với biện pháp hóa trị liệu độc tế bào hoặc xạ trị cho tới nay vẫn chưa được xác lập. Vì tính nhạy cảm tiềm tàng của sự phân chia tế bào tủy nhanh chóng với hóa trị liệu gây độc tế bào, không dùng Ior LeukoCIM trong khoảng thời gian 24 giờ trước và 24 giờ sau khi dùng hóa trị liệu độc tế bào.
Nên tránh dùng đồng thời Ior LeukoCIM với hóa trị liệu và xạ trị.
- Ảnh hưởng tiềm tàng trên tế bào ác tính:
Ior LeukoCIM là yếu tố tăng trưởng, thuốc chủ yếu kích thích những bạch cầu trung tính. Tuy nhiên không thể loại trừ khả năng Ior LeukoCIM có thể hoạt động như một yếu tố tăng trưởng với bất cứ loại khối u nào. Tính an toàn của Ior LeukoCIM đối với ung thư bạch cầu cấp dạng tủy và loạn sản tủy vẫn chưa được xác lập.
- Chứng tăng bạch cầu:
Số lượng tế bào bạch cầu 100.000/mm3 hoặc lớn hơn đã được quan sát ở xấp xỉ 2% số bệnh nhân ung thư điều trị hóa trị liệu ức chế tủy, được điều trị với Filgrastim ở liều khoảng trên 3mcg/kg/ngày. Vẫn chưa có những báo cáo về những tác dụng phụ gắn với mức độ tăng bạch cầu này.
- Ngừng điều trị sớm:
Việc ngừng điều trị Filgrastim làm giảm 50% bạch cầu tham gia vào hệ tuần hoàn trong khoảng thời gian 1 đến 2 ngày và về mức bình thường từ 1 đến 7 ngày.
Tăng tạm thời số lượng bạch cầu trung tính được thấy trong 1 đến 2 ngày sau khi bắt đầu điều trị bằng Filgrastim. Tuy nhiên để đáp ứng điều trị được liên tục, việc điều trị với Filgrastim nên được tiếp tục sau điều trị bằng hóa trị liệu cho tới khi lượng bạch cầu tuyệt đối trung tính đạt 10.000/mm3 sau khi qua mức thấp nhất.
- Thận trọng chung khác:
Cần đặc biệt thận trọng trong khi dùng liều hóa trị liệu cao hơn vì bệnh nhân có thể có nguy cơ bị độc tim, phổi, thần kinh và da. Dùng Ior LeukoCIM không tránh được chứng giảm tiểu cầu hoặc thiếu máu do hậu quả của hóa trị liệu ức chế tủy, do đó việc theo dõi thường xuyên thể tích huyết cầu đặc và tiểu cầu được khuyến cáo đặc biệt khi dùng những thuốc hay sự phối hợp thuốc có tác động làm giảm tiểu cầu nghiêm trọng.
Nên xác định tỷ trọng của xương ở những bệnh nhân mắc chứng loãng xương mà dùng Ior LeukoCIM trong khoảng thời gian trên 6 tháng.
Ior LeukoCIM không được khuyến cáo dùng cho những bệnh nhân bị suy chức năng gan hoặc thận nghiêm trọng.
Với những bệnh nhân bị nhiễm trùng điều trị với Ior LeukoCIM nên cảnh giác với khả năng của hội chứng suy hô hấp ở người lớn do có khả năng bị tràn bạch cầu trung tính ở khu vực bị viêm nhiễm.
Bảo quản
Ior LeukoCIM nên được bảo quản ở nhiệt độ từ 2-8oC. Tránh lắc thuốc.
Nguồn: MIMS Việt Nam 2014

Submit "Ior leukocim" to Digg Submit "Ior leukocim" to del.icio.us Submit "Ior leukocim" to StumbleUpon Submit "Ior leukocim" to Google Submit "Ior leukocim" to Facebook Submit "Ior leukocim" to Twitter Submit "Ior leukocim" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Vidal VN

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook