Galvus - Thuốc - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "An ủi lớn nhất của đời người là làm phước. [Trích 14 điều răn của Phật] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

Thuốc

Galvus

Cho điểm
  • Galvus
  • Vildagliptin
  • Novartis Pharma
GALVUS
Novartis Pharma
Viên nén 50 mg : 2 vỉ x 14 viên
Thành phần
Cho 1 viên
Vildagliptin 50 mg
Dược lực
Vildagliptin, một chất thuộc nhóm thuốc tăng cường chức năng tiểu đảo, là chất ức chế chọn lọc và mạnh dipeptidyl-peptidase-4(DPP-4), giúp cải thiện sự kiểm soát đường huyết:
Vildagliptin có tác dụng ức chế nhanh và hoàn toàn hoạt tính DPP-4. Ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, uống vildagliptin gây ức chế hoạt tính enzyme DPP-4 trong khoảng thời gian 24 giờ. Tác dụng ức chế DPP-4 của vildagliptin dẫn đến tăng nồng độ của các hocmon incretin là GLP-1 (peptid tương tự glucagon 1), và GIP (polypeptide kích thích insulin phụ thuộc glucose) lúc đói và sau khi ăn.
Nhờ làm tăng nồng độ nội sinh của các hocmon incretin, vildagliptin tăng cường tính nhạy cảm của các tế bào beta đối với glucose, dẫn đến cải thiện sự tiết insulin phụ thuộc glucose. Điều trị bệnh nhân đái tháo đường týp 2 với 50 đến 100mg mỗi ngày làm cải thiện đáng kể chức năng tế bào beta. Mức độ cải thiện chức năng tế bào beta phụ thuộc vào mức độ suy yếu ban đầu; ở người không bị đái tháo đường (đường huyết bình thường), vildagliptin không kích thích tiết insulin hoặc gây giảm nồng độ glucose.
Nhờ làm tăng nồng độ GLP-1 nội sinh, vildagliptin tăng cường tính nhạy cảm của các tế bào alpha đối với glucose, dẫn đến cải thiện sự tiết glucagon thích hợp với glucose. Sự hạn chế tiết glucagon không thích hợp trong bữa ăn giúp giảm thiểu sự đề kháng đối với insulin.
Sự gia tăng tỷ số insulin/glucagon trong tăng đường huyết do tăng nồng độ các hocmon incretin gây giảm tạo glucose tại gan lúc đói và sau khi ăn, dẫn đến giảm đường huyết.
Tác dụng đã biết của sự gia tăng nồng độ GLP-1 đến việc làm chậm tống thức ăn ở dạ dày không được ghi nhận khi điều trị vildagliptin. Mặt khác, nhận thấy sự hạn chế tăng lipid máu sau khi ăn, không liên quan đến tác dụng của vildagliptin qua trung gian các hocmon incretin, giúp cải thiện chức năng tiểu đảo.
Kinh nghiệm lâm sàng Hơn 15.000 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tham gia vào thử nghiệm lâm sàng mù kép, đối chứng chủ động hoặc placebo, thời gian điều trị hơn 2 năm. Trong các nghiên cứu này, hơn 9.000 bệnh nhân được cho vilagliptin hằng ngày với liều 50 mg một lần mỗi ngày, 50 mg hai lần mỗi ngày hoặc 100 mg một lần mỗi ngày. Hơn 5.000 nam giới và hơn 4.000 nữ giới uống vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày hoặc 100 mg hằng ngày. Hơn 1.900 bệnh nhân uống vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày hoặc 100 mg hằng ngày ≥ 65 tuổi. Trong các thử nghiệm này, vildagliptin được dùng theo đơn liệu pháp cho những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chưa từng điều trị, hoặc dùng kết hợp cho những bệnh nhân mà các thuốc điều trị đái tháo đường khác không kiểm soát tốt đường huyết.
Nhìn chung, vildagliptin có tác dụng cải thiện đường huyết khi được cho theo đơn liệu pháp hoặc khi được dùng kết hợp với metformin, một sulphonylurea hoặc một thiazolidinedione, được đánh giá về mặt lâm sàng bằng sự giảm rõ HbA1c từ đường cơ sở vào cuối đợt nghiên cứu (xem Bảng 5).
Trong các thử nghiệm lâm sàng với vildagliptin, mức độ giảm HbA1c nhiều hơn ở những bệnh nhân có đường HbA1c cơ sở cao.
Trong một thử nghiệm 52 tuần (LAF2309), vildagliptin (100 mg/ngày) gây giảm HbA1c -1% so với -1,4% đối với metformin (chuẩn đến 2 g/ngày). Nhận thấy những bệnh nhân điều trị bằng vildagliptin ít bị các tác dụng phụ về dạ dày ruột hơn một cách đáng kể so với nhóm điều trị bằng metformin.
Trong một thử nghiệm 12 tuần (LAF2327), vildagliptin (100 mg/ngày) được so sánh với rosiglitazone (8 mg một lần mỗi ngày). Mức giảm trung bình là -1,1% đối với vildagliptin và -1,3% đối với rosiglitazone ở những bệnh nhân có HbA1c cơ sở trung bình là 8,7%. Bệnh nhân dùng rosiglitazone có mức tăng thể trọng trung bình là (+1,6 kg), trong khi nhóm điều trị bằng vildagliptin không tăng thể trọng (-0,3 kg). Tỷ lệ phù ngoại vi ở nhóm vildagliptin thấp hơn so với nhóm rosiglitazone (2,1% so với 4,1%).
Trong một thử nghiệm 24 tuần (LAF2354), vildagliptin (50 mg 2 lần/ngày) được so sánh với pioglitazone (30 mg/ngày) ở bệnh nhân không được kiểm soát bằng metformin. Mức giảm trung bình từ đường cơ sở HbA1c 8,4% là - 0,9% đối với vildagliptin kết hợp với metformin và - 1,0% đối với pioglitazone kết hợp với metformin. HbA1c giảm từ đường cơ sở > 9,0% lớn hơn (-1,5%) trong cả hai nhóm điều trị. Bệnh nhân dùng pioglitazone kết hợp với metformin tăng 1,9 kg cân nặng. Bệnh nhân dùng vildagliptin kết hợp với metformin tăng 0,3 kg cân nặng. Trong 28 tuần kéo dài, sự giảm HbA1c giữa hai nhóm điều trị tương tự nhau và chênh lệch khối lượng tăng thêm.
Trong thử nghiệm dài hạn hơn 2 năm (LAF2308), vildagliptin (100 mg/ngày) được so sánh với glimeripide (tới 6 mg/ngày) ở các bệnh nhân được điều trị bằng metformin. Sau mức giảm trung bình 1 năm của HbA1c là -0,4% với vildagliptin kết hợp với metformin và -0,5% đối với glimepiride kết hợp với metformin. Trọng lượng cơ thể thay đổi đối với vildagliptin là -0,2 kg so với +1,6 kg đối với glimepiride. Tỉ lệ hạ đường huyết thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm dùng vildagliptin (1,7%) so với nhóm dùng glimepiride (16,2%). Tại cuối nghiên cứu (2 năm), HbA1c tương tự như các giá trị ở mức cơ bản ở cả hai nhóm điều trị và vẫn duy trì sự thay đổi trọng lượng cơ thể và sự khác biệt hạ đường huyết.
Trong thử nghiệm dài hạn 2 năm (LAF2310), vildagliptin (50 mg, 2 lần/ngày) được so sánh với gliclazide (lên tới 320 mg/ngày). Sau hai năm, mức giảm trung bình HbA1c là -0,5% đối với vildagliptin và 0,6% đối với gliclazide. Vildagliptin có mức tăng cân ít hơn (0,75 kg) và các biến cố hạ đường huyết ít hơn (0,7%) so với gliclazide (1,6 kg và 1,7%).
Trong thử nghiệm 52 tuần (LAF237A2338), vildagliptin (50 mg, 2 lần/ngày) được so sánh với gliclazide (lên tới 320 mg/ngày) ở các bệnh nhân không được kiểm soát bằng metformin. Sau 1 năm, mức giảm trung bình HbA1c là -0,81% đối với vildagliptin kết hợp với metformin (mức cơ sở trung bình HbA1c 8,4%) và -0,85% đối với gliclazide kết hợp với metformin (mức cơ sở trung bình HbA1c 8,5%) Sự thay đổi trọng lượng cơ thể đối với vildagliptin là + 0,1 kg so với trọng lượng tăng + 1,4 kg đối với gliclazide. Số lượng bệnh nhân trải qua hạ đường huyết là như nhau ở cả hai nhóm điều trị, tuy nhiên số bệnh nhân trải qua hai hoặc nhiều hơn biến cố hạ đường huyết của nhóm dùng gliclazide kết hợp với metformin (0,8%) cao hơn so với nhóm dùng vildagliptin kết hợp với metformin (0,2%).
Trong thử nghiệm 24 tuần (LMF237A2302), đánh giá hiệu quả của sự kết hợp vildagliptin và metformin với liều cố định (chuẩn độ từng bước tới liều 50 mg/500 mg, 2 lần/ngày hoặc 50 mg/1.000 mg, 2 lần/ngày) như khởi đầu điều trị ở bệnh nhân chưa dùng thuốc. Mức giảm trung bình HbA1c của liệu pháp điều trị kết hợp vildagliptin với metformin lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với đơn liệu pháp. Vildagliptin/metformin 50 mg/1.000 mg, 2 lần/ngày giảm HbA1c xuống -1,82% và vildagliptin/metformin 50 mg/500 mg, 2 lần/ngày giảm xuống -1,61% so với mức cơ sở trung bình HbA1c 8,6%. Sự giảm HbA1c lớn hơn quan sát được ở các bệnh nhân có mức cơ sở > 10,0%. Trọng lượng cơ thể giảm ở tất cả các nhóm, với mức giảm trung bình 1,2 kg ở cả hai sự kết hợp vildagliptin và metformin. Tỉ lệ hạ đường huyết là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị (0% đối với kết hợp giữa vildagliptin và metformin và 0,7% với mỗi đơn liệu pháp).
Trong thử nghiệm 24 tuần mù đôi có đối chứng với giả dược, vildagliptin (50 mg, 1 lần/ngày) đã giảm HbA1c -0,74% từ mức cơ sở trung bình 7,9% ở bênh nhân suy thận trung bình và -0,88% từ mức cơ sở trung bình 7,7% bệnh nhân suy thận nặng. Vildagliptin làm giảm HbA1c có ý nghĩa khi so sánh với giả dược (mức giảm ở bệnh nhân suy thận trung bình và nặng ở nhóm giả dược là -0,21% và -0,32% so với giá trị cơ sở trung bình tương tự).
Bảng 5. Hiệu quả chủ yếu của vildagliptin trong các thử nghiệm đơn liệu pháp có đối chứng với placebo và liệu pháp kết hợp thêm (nhóm ITT hiệu quả chủ yếu)
Các nghiên cứu đơn liệu pháp có kiểm chứng với placeboHbA1c cơ sở trung bình (%)Thay đổi trung bình từ điểm cơ sở của HbA1c (%) ở tuần 24Thay đổi trung bình được hiệu chỉnh placebo của HbA1c (%) ở tuần 24 (95% CI)Nghiên cứu 2301: Vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày (N = 104)8,2-0,8-0,5 * (-0,8, -0,1)Nghiên cứu 2301: Vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày (N = 90)8,6-0,8-0,5 * (-0,8, -0,1)Nghiên cứu 2384: Vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày (N = 84)8,3-0,5-0,5 * (-0,9, -0,1)Nghiên cứu 2384: Vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày (N = 79)8,4-0,7-0,7* (-1,1, -0,4)* p < 0,05 so với placeboCác nghiên cứu liệu pháp kết hợp thêmNghiên cứu 2303: Vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày + metformin (N = 143)8,4-0,5-0,7* (-1,0, -0,5)Nghiên cứu 2303: Vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày + metformin (N = 143)8,4-0,9-1,1* (-1,4, -0,8)Nghiên cứu 2305: Vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày + glimepiride (N = 132)8,5-0,6-0,6* (-0,9, -0,4)Nghiên cứu 2304: Vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày + pioglitazone (N = 124)8,6-0,8-0,5* (-0,7, -0,2)Nghiên cứu 2304: Vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày + pioglitazone (N = 136)8,7-1,0-0,7* (-0,9, -0,4)Nghiên cứu 2311: Vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày + insulin (N = 125)8,5-0,5-0,3* (-0,5, -0,0)* p < 0,05 so với placebo + trị liệu cơ sở
Dược động học
Tính chất tuyến tính
Vildagliptin được hấp thu nhanh chóng với tính sinh khả dụng tuyệt đối qua đường uống là 85%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương của vildagliptin và diện tích dưới đường cong biểu diễn nồng độ theo thời gian (AUC) tăng theo dạng gần như tỷ lệ với liều dùng trên phạm vi liều điều trị.
Hấp thu
Dùng đường uống vào lúc đói, vildagliptin được hấp thu nhanh với nồng độ đỉnh trong huyết tương quan sát được vào 1,75 giờ. Dùng cùng thức ăn tốc độ hấp thu của vildagliptin giảm nhẹ được biểu hiện bởi nồng độ đỉnh giảm 19%, và làm chậm thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương là 2,5 giờ. Không có sự thay đổi về mặt hấp thu, và thức ăn không thay đổi đến AUC về tổng thể.
Phân bố
Vildagliptin ít gắn với protein huyết tương (9,3%), và vildagliptin phân bố đồng đều giữa huyết tương và hồng cầu. Thể tích phân bố trung bình của vildagliptin ở trạng thái ổn định sau khi được tiêm theo đường tĩnh mạch (Vss) là 71 L, gợi ý sự phân bố ngoại mạch.
Chuyển hóa
Ở người, chuyển hóa là con đường thải loại vildagliptin chủ yếu, chiếm 69% liều dùng. Chất chuyển hóa chính, LAY151, bất hoạt về mặt dược lý và là chất chuyển hóa thủy phân chính của thành phần cyano trong thuốc (57% liều dùng), tiếp đó là sản phẩm thủy phân amide (4% liều dùng). Một nghiên cứu in-vivo trên chuột thiếu DPP-4 cho thấy DPP-4 tham gia một phần vào sự thủy phân vildagliptin. Vildagliptin không bị chuyển hóa bởi các enzyme cytochrome P450 ở mức có thể định lượng được. Nghiên cứu in-vitro đã cho thấy là vildagliptin không ức chế cũng không cảm ứng các enzyme cytochrome P450.
Bài tiết và thải trừ
Sau khi uống [14C]- vildagliptin, khoảng 85% liều dùng được bài tiết ra nước tiểu và 15% liều dùng được tìm thấy trong phân. Sự bài tiết vildagliptin chưa bị chuyển hóa trong nước tiểu chiếm 23% liều uống. Sau khi tiêm tĩnh mạch cho người khỏe mạnh, độ thanh thải vildagliptin toàn bộ huyết tương và thận lần lượt là 41 L/giờ và 13 L/giờ. Thời gian bán hủy trung bình sau khi tiêm tĩnh mạch vào khoảng 2 giờ. Thời gian bán hủy sau khi uống vào khoảng 3 giờ và không phụ thuộc liều dùng.
Các nhóm đặc biệt
Giới
Nhận thấy không có sự khác biệt về mặt dược động học của Galvus giữa nam giới và nữ giới ở các lớp tuổi và ở các chỉ số khối cơ thể (BMI) khác nhau. Giới không ảnh hưởng đến sự ức chế DPP-4 bởi Galvus.
Béo phì
BMI không cho thấy có bất kỳ tác động nào đến các thông số dược động học của Galvus. BMI không ảnh hưởng đến sự ức chế DPP-4 bởi Galvus.
Suy gan
Ảnh hưởng của suy chức năng gan đến dược động học Galvus đã được nghiên cứu trên những bệnh nhân suy chức năng gan nhẹ, trung bình và nặng dựa theo thang điểm Child-Pugh (xếp từ 6 là nhẹ đến 12 là nặng) so sánh với những người có chức năng gan bình thường. Trên những bệnh nhân suy gan nhẹ và trung bình, sau khi uống một liều Galvus (100 mg) có giảm độ tiếp xúc thuốc (lần lượt là 20% và 8%), trong khi ở những bệnh nhân bị suy gan nặng thì độ tiếp xúc thuốc tăng lên đến 22%. Sự thay đổi tối đa (tăng hoặc giảm) về độ tiếp xúc thuốc vào khoảng 30%, không được xem là có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Không có sự tương quan giữa mức độ nặng của suy gan với sự thay đổi độ tiếp xúc thuốc.
Việc sử dụng vildagliptin không được khuyến cáo cho những bệnh nhân bị suy gan bao gồm cả những bệnh nhân có ALT hoặc AST > 2,5X giới hạn trên của mức bình thường.
Suy thận
Trên những bệnh nhân bị suy thận nhẹ, trung bình và nặng, và những bệnh nhân ESRD đang phải thẩm tách máu, độ tiếp xúc thuốc thuốc tăng (Cmax 8% đến 66%; AUC 32% đến 134%) so với những người có chức năng thận bình thường. Độ nhiễm thuốc với chất chuyển hóa bất hoạt (LAY151) tăng theo mức độ suy thận (AUC 1,6 đến 6,7 lần). Sự thay đổi về độ nhiễm thuốc với vildagliptin không tương quan với mức độ suy thận, trong khi sự thay đổi về mức độ tiếp xúc với chất chuyển hóa bất hoạt (LAY151) lại có tương quan. Suy thận không ảnh hưởng đến thời gian bán hủy của vildagliptin. Không đòi hỏi phải điều chỉnh liều lượng vildagliptin trên bệnh nhân bị suy thận nhẹ. Ở bệnh nhân suy thận nặng hoặc trung bình và bệnh nhân ESRD đang phải thẩm tách máu, liều khuyến cáo của vildagliptin là 50 mg, 1 lần/ngày (xem mục Liều lượng và cách dùng).
Người lớn tuổi
Trên những người lớn tuổi khỏe mạnh khác (≥ 70 tuổi), độ tiếp xúc thuốc toàn phần với Galvus (100 mg dùng 1 lần/ngày) tăng 32%, với nồng độ đỉnh trong huyết tương tăng 18%, so với những người khỏe mạnh nhỏ tuổi hơn (18 đến 40 tuổi). Những thay đổi này không được xem là có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Ở các lớp tuổi được nghiên cứu, tuổi không ảnh hưởng đến sự ức chế DPP-4 bởi Galvus.
Nhi khoa
Chưa có dữ liệu về dược động học
Nhóm chủng tộc
Không có bằng chứng cho thấy chủng tộc có ảnh hưởng đến dược động học của Galvus.
An toàn tiền lâm sàng
Một công trình nghiên cứu hai năm về khả năng gây ung thư đã được tiến hành trên chuột cống với liều uống lên đến 900 mg/kg (gấp khoảng 200 lần liều tối đa khuyên dùng trên người). Không nhận thấy có tăng tỷ lệ mắc khối u do vildagliptin. Một công trình nghiên cứu hai năm về khả năng gây ung thư được tiến hành trên chuột nhắt với liều uống lên đến 1.000 mg/kg (gấp 240 lần liều tối đa khuyên dùng trên người). Tỷ lệ mắc ung thư vú ở chuột cái tăng khi được cho với liều vildagliptin gấp khoảng 150 lần liều tối đa ở người; tỷ lệ này không tăng khi được dùng với liều gấp khoảng 60 lần liều tối đa ở người. Tỷ lệ mắc sarcom mạch máu tăng khi được cho với liều vildagliptin gấp từ 42 đến 240 lần liều tối đa ở người đối với chuột đực và gấp khoảng 150 lần liều tối đa ở người đối với chuột cái. Nhận thấy tỷ lệ mắc sarcom mạch máu không tăng khi được cho với liều vildagliptin gấp 16 lần liều tối đa ở người đối với chuột đực và vildagliptin gấp khoảng 60 lần liều tối đa ở người đối với chuột cái. Vildagliptin không gây đột biến trong các thử nghiệm về tính sinh đột biến bao gồm xét nghiệm đột biến ngược vi khuẩn Ames và xét nghiệm sai lệch nhiễm sắc thể tế bào lymphô người. Các thử nghiệm nhân nhỏ tủy xương miệng trên cả chuột cống và chuột nhắt không phát hiện khả năng làm gãy gen hoặc lệch gen cho đến liều 2.000 mg/kg hoặc gấp khoảng 400 lần liều tối đa ở người. Xét nghiệm comet gan chuột in-vivo với liều tương tự cũng cho kết quả âm tính.
Trong một nghiên cứu 13 tuần về độc chất học ở khỉ cynomolgus, nhận thấy có tổn thương da ở liều ≥ 5 mg/kg/ngày. Những tổn thương này nằm cố định ở các đoạn cuối (bàn tay, bàn chân, tai, đuôi). Ở liều ≥ 5 mg/kg/ngày (tương đương với AUC ở người với liều 100 mg), chỉ thấy các nốt bọng nước. Các nốt này sẽ lành dù vẫn tiếp tục điều trị và không kết hợp với những bất thường về mô học. Ở liều ≥ 20 mg/kg/ngày (gấp khoảng 3 lần AUC ở người với liều 100 mg), nhận thấy có bong da, lột da, vảy da, đau ở đuôi, kết hợp với những thay đổi về mô học. Nhận thấy có tổn thương hoại tử ở đuôi với liều ≥ 80 mg/kg/ngày. Cần chú ý là vildagliptin có tác dụng dược lý mạnh hơn ở khỉ so với ngưòi. Các tổn thương da không hồi phục nếu dùng đến liều 160 mg/kg/ngày trong một giai đoạn bình phục 4 tuần. Không nhận thấy có tổn thương da ở các loài động vật khác và ở người khi điều trị bằng vildagliptin.
Chỉ định
Galvus được chỉ định phối hợp với các thuốc chống đái tháo đường khác:
* trong phối hợp kép với metformin, một sulphonylurea (SU), hoặc insulin khi chế độ ăn uống, tập luyện và chỉ một thuốc điều trị đái tháo đường không đủ hiệu quả kiểm soát đường huyết.
* trong phối hợp kép với một thiazolidindione (TZD) khi bệnh nhân không dung nạp hoặc có chống chỉ định với các phác đồ phối hợp hàng đầu đang khuyến cáo.
Chống chỉ định
Galvus được chống chỉ định cho bệnh nhân bị quá mẫn với vildagliptin hoặc với bất cứ một loại tá dược nào.
Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ.
Tổng quát
Galvus không phải là chất thay thế insulin trên bệnh nhân cần insulin. Không dùng Galvus cho bệnh nhân đái tháo đường týp 1 hoặc để điều trị nhiễm acid ketone trong đái tháo đường.
Suy gan
Không dùng Galvus cho bệnh nhân suy gan bao gồm bệnh nhân có ALT hoặc AST trước điều trị > 2,5X giới hạn trên của mức bình thường.
Kiểm tra men gan
Một số rất ít các trường hợp bị rối loạn chức năng gan (bao gồm cả viêm gan) đã được báo cáo. Trong những trường hợp này, bệnh nhân nói chung không có triệu chứng và di chứng lâm sàng, và các xét nghiệm chức năng gan (LFTs) trở về bình thường sau khi ngừng điều trị. Cần làm LFTs trước khi tiến hành điều trị bằng Galvus. Galvus không được khuyến cáo cho bệnh nhân có ALT hoặc AST trước điều trị > 2,5X giới hạn trên của mức bình thường. Trong thời gian điều trị bằng Galvus, cần kiểm tra LFTs cách ba tháng một lần trong năm đầu, sau đó kiểm tra định kỳ. Bệnh nhân bị tăng men gan cần được đánh giá chức năng gan lần hai để xác định kết quả, sau đó cần được theo dõi thường xuyên bằng các xét nghiệm chức năng gan cho đến khi chức năng gan trở về bình thường. Nếu có tăng dai dẳng AST hoặc ALT trên hoặc bằng 3X giới hạn trên của mức bình thường, việc bỏ điều trị bằng Galvus được khuyến cáo. Bệnh nhân bị vàng da hoặc có dấu hiệu gợi ý rối loạn chức năng gan phải ngừng uống Galvus và đến gặp bác sĩ điều trị ngay. Sau khi đã bỏ Galvus và LFT trở về bình thường thì không điều trị lại bằng vildagliptin nữa.
Khác
Viên nén Galvus có chứa lactose. Bệnh nhân bị các rối loạn di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu Lapp lactase hoặc rối loạn hấp thu glucose-galactose thì không dùng thuốc này.
Tác động của thuốc khi lái xe và vận hành máy móc:
Chưa có nghiên cứu về tác động của thuốc khi lái xe và vận hành máy móc. Bệnh nhân đã có bị chóng mặt thì tránh lái xe hoặc vận hành máy móc.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Phụ nữ có thai
Các nghiên cứu về khả năng sinh sản đã được tiến hành trên chuột với liều lượng gấp đến 200 lần liều lượng ở người và không cho thấy dấu hiệu bất thường về khả năng sinh sản hoặc phát triển phôi thai do vildagliptin. Vildagliptin không gây quái thai trên chuột cũng như trên thỏ. Tuy nhiên, do không có các nghiên cứu đầy đủ và kiểm soát tốt trên phụ nữ có thai nên không được sử dụng vildagliptin trong thời kỳ mang thai, trừ khi lợi ích mang lại cho người mẹ lớn hơn nguy cơ tiềm tàng cho thai nhi.
Các nghiên cứu trên động vật không phải luôn luôn dự báo được đáp ứng ở người. Vì thông tin hiện nay gợi ý một cách mạnh mẽ rằng mức độ glucose máu trong thời kỳ mang thai có liên quan đến tỷ lệ xảy ra các bất thường bẩm sinh cao, tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ tử vong sơ sinh tăng, đa số các chuyên gia khuyên nên sử dụng liệu pháp một thuốc insulin trong thời kỳ mang thai để duy trì mức độ glucose máu càng gần với bình thường càng tốt.
Cho con bú
Vì không biết được vildagliptin có được tiết ra trong sữa mẹ hay không nên không dùng Galvus cho phụ nữ đang cho con bú.
Tương tác thuốc
Vildagliptin ít có khả năng gây tương tác thuốc. Do vildagliptin không phải là cơ chất đối với cytochrome P (CYP) 450, không ức chế cũng không cảm ứng enzyme CYP 450, nên có thể là nó không tương tác với các thuốc dùng kèm theo là các cơ chất, chất ức chế hoặc chất cảm ứng những enzym này.
Hơn nữa vildagliptin không ảnh hưởng đến sự thanh thải chuyển hóa của các thuốc dùng kèm theo khi những thuốc này được chuyển hóa bởi CYP 1A2, CYP 2C8, CYP 2C9, CYP 2C19, CYP 2D6, CYP 2E1, và CYP 3A4/5. Sự tương tác thuốc-thuốc đã được nghiên cứu với các thuốc thường được cho kèm theo trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 hoặc thuốc với diện điều trị hẹp. Theo kết quả các nghiên cứu này, không nhận thấy có sự tương tác rõ ràng về mặt lâm sàng với các thuốc uống điều trị đái tháo đường khác (glibenclamide, pioglitazone, metformin), amlodipine, digoxin, ramipril, simvastatin, valsartan hoặc warfarin khi dùng kèm với vildagliptin.
Tác dụng ngoại ý
Dữ liệu an toàn thu được từ 3.784 bệnh nhân dùng vildagliptin với liều hằng ngày 50 mg (một lần trong ngày) hoặc 100 mg (50 mg hai lần trong ngày, hoặc 100 mg một lần trong ngày) ở các thử nghiệm có kiểm chứng ít nhất trong thời gian 12 tuần. Trong số những bệnh nhân này, có 2.264 bệnh nhân uống vildagliptin đơn liệu pháp và 1.520 bệnh nhân uống vildagliptin kết hợp với một thuốc khác. 2.682 bệnh nhân được điều trị bằng vildagliptin 100 mg mỗi ngày (2.027 với 50 mg hai lần trong ngày và 655 với 100 mg một lần trong ngày) và 1.102 bệnh nhân được điều trị bằng vildagliptin 50 mg một lần trong ngày.
Đa số các phản ứng phụ trong những thử nghiệm này là nhẹ và thoáng qua, không cần phải ngừng điều trị. Không có sự liên quan giữa những phản ứng phụ này với tuổi, chủng tộc, thời gian dùng thuốc hoặc liều lượng hàng ngày.
Một số hiếm gặp các trường hợp bị phù mạch máu ở nhóm dùng vildagliptin mức độ tương tự ở nhóm kiểm chứng đã được báo cáo. Tỷ lệ cao hơn đối với các trường hợp dùng vildagliptin kết hợp với thuốc ức chế men chuyển angiotensin (thuốc ức chế ACE). Đa số các sự cố xảy ra ở mức độ nhẹ và hồi phục khi tiếp tục điều trị bằng vildagliptin.
Một số hiếm gặp các trường hợp rối loạn chức năng gan (bao gồm cả viêm gan) đã được báo cáo. Trong những trường hợp này, bệnh nhân nói chung không có triệu chứng và di chứng lâm sàng, và các xét nghiệm chức năng gan (LFTs) trở về bình thường sau khi ngừng điều trị. Theo dữ liệu từ các thử nghiệm đơn liệu pháp và liệu pháp kết hợp thêm kéo dài đến 24 tuần, tỷ lệ tăng ALT và AST >= 3X giới hạn trên của mức bình thường (dựa trên ít nhất hai lần đo liên tiếp hoặc lần khám điều trị cuối cùng) lần lượt là 0,2%, 0,3% và 0,2% đối với vildagliptin 50 mg mỗi ngày, vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày và tất cả các nhóm đối chiếu. Sự gia tăng các loại transminase này nhìn chung không có triệu chứng, không nặng thêm về bản chất và không liên quan đến ứ mật hoặc vàng da.
Các phản ứng phụ được báo cáo trên bệnh nhân trong các nghiên cứu mù kép dùng Galvus như liệu pháp kết hợp thêm được liệt kê dưới đây, cho từng chỉ định, theo loại cơ quan hệ thống và tần số tuyệt đối. Các tần số được xác định là: rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100, < 1/10); ít gặp (≥ 1/1.000, < 1/100); hiếm gặp (> 1/10.000 đến ≤ 1/1.000); rất hiếm gặp (≤ 1/10.000). Trong mỗi nhóm tần số, các tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự từ nặng đến nhẹ.
Kết hợp với metformin
Trong các thử nghiệm lâm sàng kết hợp vildagliptin với metformin, 0,4% số bệnh nhân bỏ thuốc do các tác dụng phụ thuộc nhóm điều trị bằng vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày + metformin, không có bệnh nhân bỏ thuốc do phản ứng phụ ở nhóm điều trị bằng vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày + metformin hoặc placebo + metformin.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ hạ đường huyết ít gặp ở các nhóm bệnh nhân uống vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày kết hợp với metformin (0,9%), bệnh nhân uống vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày kết hợp với metformin (0,5%), và bệnh nhân uống placebo + metformin (0,4%). Không có sự cố hạ đường huyết nghiêm trọng ở các nhóm bệnh nhân uống vildagliptin.
Galvus không ảnh hưởng đến thể trọng khi được cho kết hợp với metformin.
Bảng 1. Các phản ứng phụ được báo cáo trên bệnh nhân uống Galvus 50 mg một lần mỗi ngày (n = 233) hoặc 50 mg hai lần mỗi ngày (n = 183) kết hợp với metformin trong các nghiên cứu mù kép.
Rối loạn hệ thần kinhThường gặpRun, chóng mặt, nhức đầuCác thử nghiệm lâm sàng dài hạn đến hơn 2 năm không chỉ ra bất kỳ dấu hiệu an toàn hoặc nguy cơ không biết trước nào khi vildagliptin được bổ sung với metformin.
Kết hợp với một sulphonylurea
Trong các thử nghiệm lâm sàng kết hợp vildagliptin 50 mg + glimepiride, tỷ lệ toàn bộ bỏ thuốc do các tác dụng phụ là 0,6% ở nhóm điều trị bằng vildagliptin 50 mg + glimepiride, so với 0% ở nhóm uống placebo + glimepiride.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ hạ đường huyết nhóm bệnh nhân uống vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày kết hợp với glimepiride là 1,2% so với 0,6% uống placebo + glimepiride. Không có sự cố hạ đường huyết nghiêm trọng ở nhóm bệnh nhân uống vildagliptin.
Với liều khyên dùng là 50 mg, Galvus không ảnh hưởng đến thể trọng khi được cho kết hợp với glimepiride.
Bảng 2. Các phản ứng phụ được báo cáo trên bệnh nhân uống Galvus 50 mg một lần mỗi ngày kết hợp với một sulphonylurea trong các nghiên cứu mù kép (n = 170)
Rối loạn hệ thần kinhThường gặpRun, nhức đầu, chóng mặtRối loạn tổng quát và tình trạng tại chỗ dùng thuốcThường gặpSuy nhược cơ thểKết hợp với một thiazolidinedione
Trong các thử nghiệm lâm sàng kết hợp vildagliptin với một thuốc nhóm thiazolidinedione, 0,7% số bệnh nhân bỏ thuốc do các tác dụng phụ ở nhóm điều trị bằng vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày + pioglitazone, và không có bệnh nhân bỏ thuốc do phản ứng phụ ở các nhóm điều trị bằng vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày + pioglitazone hoặc placebo + pioglitazone.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, không có sự cố hạ đường huyết ở nhóm bệnh nhân uống vildagliptin 50 mg một lần mỗi ngày + pioglitazone 45 mg, ít gặp hạ đường huyết ở nhóm bệnh nhân uống vildagliptin 50 mg hai lần mỗi ngày + pioglitazone 45 mg (0,6%), nhưng thường gặp ở nhóm bệnh nhân uống placebo + pioglitazone 45 mg (1,9%). Không có sự cố hạ đường huyết nghiêm trọng ở các nhóm bệnh nhân có uống vildagliptin.
Trong nghiên cứu kết hợp thuốc pioglitazone, sự thay đổi thể trọng so với placebo lần lượt là +0,1 kg và +1,3 kg đối với Galvus 50 mg một lần mỗi ngày và Galvus 50 mg hai lần mỗi ngày.
Tỷ lệ xảy ra phù ngoại vi khi kết hợp vildagliptin với liều tối đa pioglitazone nền (45 mg một lần mỗi ngày) là 8,2% nếu dùng 50 mg một lần mỗi ngày và 7,0% nếu dùng 50 mg hai lần mỗi ngày so với 2,5% khi chỉ điều trị bằng pioglitazone. Tỷ lệ bị phù khi kết hợp vildagliptin với pioglitazone trong liệu pháp kết hợp kép điều trị ban đầu cho bệnh nhân chưa từng uống thuốc tuy vậy lại thấp hơn so với nhóm chỉ điều trị bằng pioglitazone (50 mg một lần mỗi ngày 3,5%, 50mg hai lần mỗi ngày 6,1% so với pioglitazone 30 mg 9,3%).
Bảng 3. Các phản ứng phụ được báo cáo trên bệnh nhân uống Galvus 50 mg một lần mỗi ngày (n = 146) hoặc 50 mg hai lần mỗi ngày (n = 158) kết hợp với một thiazolidinedione trong các nghiên cứu mù kép
Xét nghiệmThường gặpTăng thể trọngRối loạn về mạch máuThường gặpPhù ngoại viKết hợp với insulin
Trong các thử nghiệm lâm sàng, nguy cơ hạ đường huyết khi kết hợp Galvus với insulin không gia tăng xét về tỷ lệ và mức độ hạ đường huyết so với placebo.
Galvus 50 mg hai lần mỗi ngày kết hợp với insulin gây sự thay đổi trung bình về thể trọng là +0,9 kg so với placebo.
Bảng 4. Các phản ứng phụ được báo cáo trên bệnh nhân uống Galvus 50 mg hai lần mỗi ngày kết hợp với insulin (n = 144)
Rối loạn hệ thần kinhThường gặpNhức đầuRối loạn dạ dày ruộtÍt gặpBuồn nôn, đầy hơi, bệnh trào ngược dạ dày thực quảnRối loạn chuyển hóa và dinh dưỡngThường gặpGiảm glucose máuKinh nghiệm hậu tiếp thị
Trong kinh nghiệm hậu tiếp thị, các phản ứng phụ bổ sung của thuốc sau đây đã được báo cáo:
- Các trường hợp hiếm gặp viêm gan có hồi phục khi ngừng thuốc (xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
- Tần suất không rõ*: mày đay, viêm tụy.
* Vì những phản ứng này được báo cáo tình nguyện từ nhóm dân số có quy mô không xác định, không thể ước tính tần suất đáng tin cậy, vì thế xếp hạng "không rõ".
Lưu ý bệnh nhân thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Liều lượng và cách dùng
Điều trị đái tháo đường phải được xem xét theo từng trường hợp.
Liều Galvus khuyên dùng là 50 mg hoặc 100 mg mỗi ngày trong việc phối hợp kép với metformin, một TZD hoặc insulin.
Liều 50 mg phải được uống mỗi ngày một lần vào buổi sáng. Liều 100 mg phải được chia thành hai liều 50 mg, uống vào buổi sáng và buổi tối.
Khi được dùng trong phối hợp kép với một sulphonylurea, liều vildagliptin khuyên dùng là 50 mg mỗi ngày uống một lần vào buổi sáng. Trên nhóm bệnh nhân này, vildagliptin 100 mg mỗi ngày không hiệu quả hơn vildagliptin 50 mg mỗi ngày.
Nếu sự kiểm soát đường huyết chặt chẽ hơn cần đến liều dùng trên liều vildagliptin tối đa khuyên dùng mỗi ngày, có thể xem xét bổ sung các thuốc điều trị đái tháo đường khác như metformin, một SU, một TZD hoặc insulin.
Bệnh nhân suy gan hoặc suy thận
Không dùng Galvus cho bệnh nhân suy gan bao gồm bệnh nhân có ALT hoặc AST trước điều trị > 2,5X giới hạn trên của mức bình thường.
Không cần điều chỉnh liều lượng Galvus trên bệnh nhân suy thận nhẹ. Ở bệnh nhân suy thận trung bình hoặc nặng hoặc bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD phải thẩm tách máu), liều khuyến cáo Galvus là 50 mg, 1 lần/ngày (xem mục Dược động học đoạn Các nhóm đặc biệt).
Bệnh nhân lớn tuổi
Ở những bệnh nhân ≥ 65 tuổi và ≥ 75 tuổi điều trị bằng Galvus, không nhận thấy có sự khác biệt về độ an toàn, sự dung nạp hoặc tính hiệu quả giữa nhóm bệnh nhân lớn tuổi này với những bệnh nhân trẻ tuổi hơn. Do vậy không cần điều chỉnh liều lượng trên bệnh nhân lớn tuổi (xem mục Dược động học đoạn Các nhóm đặc biệt).
Bệnh nhi
Galvus chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân dưới 18 tuổi; do vậy việc sử dụng Galvus cho bệnh nhi không được khuyến cáo (cũng xem mục Dược động học đoạn Các nhóm đặc biệt).
Quá liều
Dấu hiệu và triệu chứng
Ở những người khỏe mạnh (bảy đến mười bốn người mỗi nhóm điều trị), Galvus được dùng mỗi ngày một lần với liều 25, 50, 100, 200, 400, và 600 mg cho đến 10 ngày liên tiếp. Liều dùng đến 200 mg được dung nạp tốt. Với liều 400 mg, có ba trường hợp bị đau cơ và các trường hợp đơn lẻ bị dị cảm, sốt, phù và tăng các nồng độ lipase thoáng qua (2 X ULN). Với liều 600 mg, một người bị phù ở chân và tay, có nồng độ creatine phosphate (CPK) tăng cao, kèm tăng aspartate aminotransferase (AST), C-reactive protein, và myoglobin. Ba người khác trong nhóm dùng liều này bị phù ở hai chân, kèm dị cảm ở hai trường hợp. Các triệu chứng và những bất thường về xét nghiệm biến mất khi ngừng thuốc nghiên cứu.
Xử trí
Galvus không thể thẩm tách được, tuy nhiên chất chuyển hóa thủy phân chính (LAY151) có thể loại bỏ được bằng thẩm tách máu.
Bảo quản
Không bảo quản trên 30oC, tránh ẩm. Giữ thuốc trong bao bì gốc.
Nguồn: Vidal Việt Nam 2012

Submit "Galvus" to Digg Submit "Galvus" to del.icio.us Submit "Galvus" to StumbleUpon Submit "Galvus" to Google Submit "Galvus" to Facebook Submit "Galvus" to Twitter Submit "Galvus" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Vidal VN

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook