Seroquel - Thuốc - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "Rượu nhạt uống lắm cũng say. Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm. [Ngạn ngữ Việt nam ] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

Thuốc

Seroquel

Cho điểm
  • Seroquel
  • AstraZeneca
SEROQUEL
AstraZeneca
Viên nén bao phim 25 mg : vỉ 10 viên, hộp 3 vỉ,
Viên nén bao phim 100 mg : vỉ 10 viên, hộp 3 vỉ,
Viên nén bao phim 200 mg : vỉ 10 viên, hộp 6 vỉ
Thành phần
Cho 1 viên
Quetiapine fumarate Tương ứng Quetiapine base 25 mg
Cho 1 viên
Quetiapine fumarate Tương ứng Quetiapine base 100 mg
Cho 1 viên
Quetiapine fumarate Tương ứng Quetiapine base 200 mg
Dược lực
Nhóm dược lý trị liệu: chống loạn thần.
Phân loại trị liệu: N05A H04.
Quetiapine có hoạt tính qua các thử nghiệm về tác động chống loạn thần, như sự cai thuốc có điều kiện.
Quetiapine cũng làm đảo ngược tác động của các chất đồng vận với dopamine, đánh giá qua hành vi hay điện sinh lý, và làm tăng nồng độ chất chuyển hóa dopamine, chỉ số về hóa thần kinh của sự ức chế thụ thể dopamine D2.
Kết quả từ các thử nghiệm trên động vật dự báo khả năng có triệu chứng ngoại tháp (EPS- extrapyramidal symtomps) cho thấy quetiapine chỉ gây tác động giữ nguyên tư thế ở mức độ nhẹ ở các liều ức chế hiệu quả thụ thể dopamine D2, và quetiapine làm giảm có chọn lọc việc kích thích các nơrôn dopaminergic A10 ở vùng rìa não giữa (mesolimbic) so với các nơrôn thể vân đen (nigrostriatal) A9 liên quan đến chức năng vận động, và quetiapine gây tác động loạn trương lực rất nhẹ trên loài khỉ nhạy cảm với thuốc an thần kinh. Trong các thử nghiệm tiền lâm sàng dự báo khả năng có triệu chứng ngoại tháp (EPS), quetiapine không giống thuốc chống loạn thần tiêu chuẩn và có đặc tính không điển hình.
Quetiapine không gây tác động quá mẫn với thụ thể dopamin D2 sau khi dùng lâu dài. Quetiapine chỉ gây tác động giữ nguyên thế (catalepsy) yếu ở các liều ức chế thụ thể dopamine D2. Quetiapine chứng tỏ tính chọn lọc trên vùng rìa não qua tác động ức chế khử cực của các nơrôn chứa dopamin A10 ở vùng rìa não giữa (mesolimbic) nhưng không tác động trên các nơrôn thể vân đen (nigrostriatal) A9 sau khi dùng lâu dài. Quetiapine có thể gây loạn trương lực cơ rất nhỏ trên loài khỉ Cebus nhạy cảm với haloperidol hoặc chưa từng dùng thuốc (drug-naive) sau khi dùng thuốc ngay lập tức và lâu dài. Kết quả của các thử nghiệm này dự báo cho thấy Seroquel có khả năng gây triệu chứng ngoại tháp tối thiểu, và có giả thiết cho là các chất ít có khả năng gây triệu chứng ngoại tháp cũng có thể ít có khả năng gây loạn vận động muộn.
Vẫn chưa biết chất chuyển hóa N-desalkyl quetiapine góp phần vào đặc tính dược lý của Seroquel trên người ở mức độ nào.
Hiệu quả lâm sàng:
Kết quả từ 3 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với giả dược, trong đó có 1 thử nghiệm sử dụng Seroquel với liều 75-750 mg/ngày, không ghi nhận sự khác biệt giữa Seroquel và giả dược về tần suất xuất hiện triệu chứng ngoại tháp hoặc khi dùng đồng thời thuốc kháng cholinergic.
Trong 4 thử nghiệm có đối chứng, đánh giá liều Seroquel lên đến 800 mg trong điều trị cơn hưng cảm do rối loạn lưỡng cực, hai thử nghiệm sử dụng đơn trị liệu và hai thử nghiệm dùng thuốc như trị liệu phụ trợ cho lithium hoặc valproate semisodium, không có sự khác biệt giữa hai nhóm trị liệu với Seroquel và giả dược về tần suất xuất hiện triệu chứng ngoại tháp hoặc khi dùng đồng thời thuốc kháng cholinergic. Seroquel không làm tăng prolactin kéo dài. Trong một thử nghiệm lâm sàng đa liều cố định, không có sự khác biệt về nồng độ prolactin khi hoàn tất thử nghiệm giữa các liều Seroquel khuyến cáo và giả dược.
Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy Seroquel hiệu quả trong điều trị cả triệu chứng dương tính và âm tính của tâm thần phân liệt. Trong một thử nghiệm so sánh với chlorpromazine, và hai thử nghiệm so sánh với haloperidol, Seroquel cho hiệu quả ngắn hạn tương đương.
Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy Seroquel đơn trị liệu hay điều trị phụ trợ đều cho hiệu quả trong việc làm giảm các triệu chứng hưng cảm ở bệnh nhân bị hưng cảm do rối loạn lưỡng cực. Ở các bệnh nhân có đáp ứng, liều trung vị Seroquel ở tuần cuối vào khoảng 600 mg và khoảng 85% các bệnh nhân có đáp ứng sử dụng liều 400 đến 800 mg mỗi ngày.
Cơ chế tác dụng
Quetiapine là thuốc chống loạn thần không điển hình. Quetiapine và chất chuyển hóa có hoạt tính trong huyết tương người, N-desalkyl quetiapine có tác động trên nhiều loại thụ thể dẫn truyền thần kinh. Quetiapine và N-desalkyl quetiapine có ái lực với thụ thể serotonin (5HT2) ở não và với thụ thể dopamine D1 và D2. Chính tính chọn lọc với thụ thể serotonin (5HT2) ở não cao hơn với thụ thể opamine D2 được tin là góp phần vào đặc tính chống loạn thần trên lâm sàng và ít nguy cơ tác dụng phụ trên hệ ngoại tháp của Seroquel. Ngoài ra, N-desalkyl quetiapine có ái lực cao với chất vận chuyển norepinephrine (NET). Quetiapine và N-desalkyl quetiapine cũng có ái lực cao với thụ thể histaminergic và adrenergic alpha1, có ái lực thấp hơn với thụ thể adrenergic alpha2 và serotonine 5HT1A. Quetiapine có ái lực không đáng kể với các thụ thể cholinergic muscarinic hay benzodiazepine.
Dược động học
Quetiapine được hấp thu tốt và chuyển hóa hoàn toàn sau khi uống. Sinh khả dụng của quetiapine không bị ảnh hưởng đáng kể bởi thức ăn. Quetiapine gắn kết khoảng 83% với protein huyết tương. Nồng độ phân tử tối đa ở trạng thái ổn định của chất chuyển hóa có hoạt tính N-desalkyl quetiapine bằng 35% nồng độ này của quetiapine. Thời gian bán thải của quetiapine và N-desalkyl quetiapine theo thứ tự khoảng 7 và 12 giờ.
Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy Seroquel hiệu quả trong tâm thần phân liệt và hưng cảm khi sử dụng 2 lần mỗi ngày. Điều này cũng được hỗ trợ thêm qua các dữ liệu từ thử nghiệm chụp cắt lớp phát positron (PET) đã xác định rằng việc chiếm giữ các thụ thể 5HT2 và D2 được duy trì đến 12 giờ sau khi uống quetiapine. Hiệu quả và tính an toàn của liều lớn hơn 800 mg/ngày chưa được đánh giá.
Dược động học của quetiapine và N-desalkyl quetiapine là tuyến tính khi sử dụng các liều đã được phê chuẩn. Dược động học của quetiapine không khác nhau giữa nam và nữ.
Độ thanh thải trung bình của quetiapine ở người cao tuổi thấp hơn khoảng 30 đến 50% so với ở người 18-65 tuổi.
Độ thanh thải trung bình của quetiapine trong huyết tương giảm khoảng 25% ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinine < 30 ml/phút/1,73m2) và ở bệnh nhân suy gan (xơ gan do rượu ở mức độ ổn định), nhưng các giá trị thanh thải của từng cá nhân vẫn trong giới hạn cho người bình thường. Trung bình tỷ lệ tính theo phân tử lượng giữa quetiapine tự do và chất chuyển hóa có hoạt tính trong huyết tương người N-desalkyl quetiapine bài tiết qua nước tiểu là < 5%. Quetiapine được chuyển hóa hoàn toàn, sau khi uống quetiapine đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ, hoạt chất gốc chiếm < 5% các chất liên quan đến thuốc chưa chuyển hóa có trong phân và nước tiểu. Khoảng 73% hoạt tính phóng xạ được bài tiết qua nước tiểu và 21% qua phân.
Trung bình độ thanh thải quetiapine trong huyết tương giảm khoảng 25% ở bệnh nhân suy gan (xơ gan do rượu ở tình trạng ổn định). Vì quetiapine được chuyển hóa hoàn toàn bởi gan, nồng độ quetiapine huyết tương cao hơn ở bệnh nhân suy gan, và có thể cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan (xem 'Liều Lượng và Cách Sử Dụng').
Các khảo sát in vitro xác định rằng CYP3A4 là men chính chịu trách nhiệm cho sự chuyển hóa quetiapine qua trung gian cytochrome P450. N-desalkyl quetiapine chủ yếu được hình thành và thải trừ qua CYP3A4.
Trong một thử nghiệm đa liều ở người tình nguyện khỏe mạnh để đánh giá dược động học của quetiapine sử dụng trước và trong quá trình trị liệu với ketoconazole, sử dụng đồng thời với ketoconazole làm tăng giá trị trung bình Cmax và AUC của quetiapine theo thứ tự 235% và 522%, và làm giảm tương ứng trung bình thanh thải đường uống 84%. Thời gian bán hủy trung bình của quetiapine tăng 2,6-6,8 giờ, nhưng tmax trung bình không thay đổi.
Quetiapine và nhiều chất chuyển hóa của nó (kể cả N-desalkyl quetiapine) là chất ức chế yếu hoạt tính cytochrome P450 1A2, 2C9, 2C19, 2D6 và 3A4 in vitro. Sự ức chế CYP in vitro chỉ ghi nhận được ở liều cao hơn gấp 5 đến 50 lần liều 300 đến 800 mg/ngày ở người. Dựa trên các kết quả in vitro này, dường như phối hợp quetiapine với các thuốc khác sẽ không ức chế đáng kể sự chuyển hóa của các thuốc phối hợp qua trung gian cytochrome P450.
An toàn tiền lâm sàng
Nghiên cứu về độc tính cấp:
Quetiapine có độc tính cấp thấp. Các ghi nhận ở chuột cống và chuột nhắt sau khi cho uống (liều 500 mg/kg) hoặc tiêm phúc mạc (100 mg/kg) là các biểu hiện đặc trưng của thuốc an thần bao gồm suy giảm hoạt động vận động, sụp mi, mất phản xạ bên phải, trào dịch quanh miệng và co giật.
Nghiên cứu về độc tính khi sử dụng liều lặp lại:
Trong các thử nghiệm đa liều ở chuột, chó và khỉ khi dùng quetiapine, người ta đã quan sát thấy các tác động trên hệ thần kinh trung ương của một thuốc chống loạn thần (như gây ngủ ở liều thấp và run, co giật hay kiệt sức ở liều cao hơn).
Tăng prolactin máu, gây ra bởi hoạt tính đối kháng thụ thể dopamine D2 của quetiapine hay các chất chuyển hóa của nó, thay đổi tùy theo loài nhưng đáng kể nhất ở chuột, và hậu quả của tác động này được ghi nhận qua thử nghiệm 12 tháng, bao gồm tăng sản tuyến vú, tăng khối lượng tuyến yên, giảm khối lượng tử cung và tăng phát triển ở con cái.
Tác động trên hình thái và chức năng gan có thể hồi phục, phù hợp với tác động cảm ứng men gan, đã được ghi nhận ở chuột, chuột nhắt và khỉ.
Phì đại tế bào nang tuyến giáp và các thay đổi kèm theo của nồng độ hormon tuyến giáp trong huyết tương đã xảy ra ở chuột và khỉ.
Sự nhiễm sắc tố một số mô, đặc biệt là tuyến giáp, không liên quan đến bất kỳ tác động hình thái hay chức năng.
Tăng nhịp tim thoáng qua, không đi kèm tác động trên huyết áp, đã xảy ra ở chó.
Đục thủy tinh thể 3 mặt phía sau tiền phòng đã ghi nhận ở chó 6 tháng sau khi uống liều 100 mg/kg/ngày do ức chế sinh tổng hợp cholesterol ở thủy tinh thể. Không ghi nhận đục thủy tinh ở khỉ Cynomolgus cho uống liều lên đến 225 mg/kg/ngày, hay ở loài gậm nhấm. Theo dõi qua các thử nghiệm lâm sàng không ghi nhận đục giác mạc có liên quan đến thuốc ở người.
Không có bằng chứng về giảm bạch cầu trung tính hay mất bạch cầu hạt qua các thử nghiệm về độc tính.
Nghiên cứu về khả năng gây ung thư:
Trong thử nghiệm trên chuột (với các liều 0, 20, 75 và 250 mg/kg/ngày) tần suất ung thư biểu mô tuyến vú ở chuột cái tăng ở tất cả các liều, là hậu quả của tăng prolactin máu kéo dài.
Ở chuột đực (250 mg/kg/ngày) và chuột nhắt đực (250 và 750 mg/kg/ngày), có sự gia tăng tần suất u lành tính tế bào nang tuyến giáp, phù hợp với cơ chế đặc biệt ở loài gậm nhấm do gia tăng thanh thải thyroxine ở gan.
Nghiên cứu về khả năng sinh sản:
Các tác động liên quan đến sự tăng nồng độ prolactin (giảm không đáng kể khả năng sinh sản ở chuột đực và tình trạng mang thai giả, kéo dài thời kỳ không động dục, tăng thời gian trước giao phối và giảm tần suất thụ thai) đã được quan sát thấy ở chuột, mặc dù những tác động này không liên quan trực tiếp đến người do sự khác nhau giữa các loài về sự điều tiết quá trình sinh sản qua cơ chế nội tiết.
Quetiapine không có tác động sinh quái thai.
Nghiên cứu về khả năng sinh đột biến:
Các thử nghiệm về độc tính di truyền khi dùng quetiapine cho thấy quetiapine không phải là chất sinh đột biến hay làm tách đoạn gen.
Chỉ định
- Điều trị tâm thần phân liệt.
- Điều trị các cơn hưng cảm liên quan đến rối loạn lưỡng cực.
Chống chỉ định
Seroquel chống chỉ định cho bệnh nhân quá mẫn với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng
Giảm bạch cầu trung tính:
Giảm bạch cầu trung tính nặng (< 0,5 x 109/L) hiếm khi được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng về Seroquel. Hầu hết các trường hợp giảm bạch cầu trung tính nặng xảy ra trong 2 tháng đầu điều trị với Seroquel. Không có mối liên hệ rõ rệt với liều dùng. Các yếu tố nguy cơ có thể xảy ra giảm bạch cầu trung tính bao gồm lượng bạch cầu thấp trước đó và tiền sử giảm bạch cầu trung tính do dùng thuốc. Nên ngưng dùng quetiapine ở bệnh nhân có bạch cầu trung tính < 1,0 x 109/L. Nên theo dõi dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng và lượng bạch cầu trung tính ở các bệnh nhân này (cho đến khi lượng bạch cầu trung tính vượt quá 1,5 x 109/L) (xem "Tác dụng ngoại ý").
Tăng glucose máu và chứng tăng đường huyết bệnh lý:
Đã ghi nhận tăng glucose máu và tăng đường huyết và một vài báo cáo đái tháo đường trong các thử nghiệm lâm sàng với quetiapine. Mặc dù mối liên hệ nhân quả với bệnh đái tháo đường chưa được thiết lập, bệnh nhân có nguy cơ đái tháo đường được khuyên nên theo dõi lâm sàng thích đáng. Tương tự, nên theo dõi các cơn kịch phát có thể xảy ra ở bệnh nhân đã bị đái tháo đường (xem "Tác dụng ngoại ý").
Bệnh tim mạch:
Seroquel nên được sử dụng thận trọng đối với bệnh nhân đã biết có mắc bệnh tim mạch, bệnh mạch máu não, hoặc các tình trạng bệnh lý khác có thể gây tụt huyết áp. Seroquel có thể gây hạ huyết áp thế đứng, đặc biệt ở giai đoạn đầu điều chỉnh liều; thường xảy ra ở bệnh nhân cao tuổi hơn ở bệnh nhân trẻ tuổi. Trong các thử nghiệm lâm sàng, quetiapine không liên quan đến sự tăng kéo dài khoảng QTc. Tuy nhiên, cũng như các thuốc chống loạn thần khác, nên thận trọng khi kê toa quetiapine đồng thời với các thuốc được biết làm kéo dài khoảng QTc, đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi.
Co giật:
Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, không có khác biệt về tần suất động kinh giữa nhóm bệnh nhân sử dụng Seroquel và nhóm dùng giả dược. Cũng như các thuốc chống loạn thần khác, nên thận trọng khi sử dụng thuốc cho bệnh nhân có tiền sử động kinh. (Xem "Tác dụng ngoại ý").
Rối loạn vận động tự ý muộn:
Cũng như các thuốc chống loạn thần khác, Seroquel có thể gây rối loạn vận động muộn khi điều trị kéo dài. Khi có bất kỳ dấu hiệu hay triệu chứng rối loạn vận động muộn nào, nên xem xét giảm liều hay ngưng thuốc Seroquel.
Hội chứng ác tính do thuốc an thần:
Hội chứng ác tính do thuốc an thần kinh có liên quan đến việc điều trị bằng các thuốc chống loạn thần, kể cả Seroquel (xem "Tác dụng không mong muốn"). Các biểu hiện lâm sàng bao gồm tăng thân nhiệt quá mức, thay đổi trạng thái tâm thần, co cứng cơ, hệ thần kinh tự chủ không ổn định và tăng creatine phosphokinase. Trong trường hợp này, nên ngưng Seroquel và điều trị thích hợp.
Phản ứng do ngưng thuốc đột ngột:
Các triệu chứng buồn nôn, nôn và mất ngủ rất hiếm gặp khi ngưng đột ngột các thuốc chống loạn thần. Tái phát các triệu chứng tâm thần cũng có thể xảy ra, và sự xuất hiện các rối loạn vận động không chủ ý (như chứng không ngồi yên, chứng loạn trương lực cơ và rối loạn vận động) đã được ghi nhận. Vì vậy, nên ngưng thuốc từ từ.
Bệnh nhân cao tuổi sa sút trí tuệ:
Seroquel chưa được phê chuẩn để điều trị bệnh nhân rối loạn tâm thần liên quan đến sa sút trí tuệ. Trong một phân tích tổng hợp (meta-analysis) cho các thuốc chống loạn thần không điển hình, đã có báo cáo tăng nguy cơ tử vong ở các bệnh nhân cao tuổi bị loạn thần liên quan đến sa sút trí tuệ so với giả dược. Trong hai nghiên cứu Seroquel đối chứng với giả dược trong 10 tuần trên cùng dân số bệnh nhân (n=710, tuổi trung vị: 83, độ tuổi biến thiên từ 56-99), tần suất tử vong ở nhóm bệnh nhân điều trị với Seroquel là 5,5% so với 3,2% ở nhóm giả dược. Số bệnh nhân tử vong do nhiều nguyên nhân khác nhau trong hai thử nghiệm này phù hợp với dự đoán cho nhóm bệnh nhân này. Các dữ liệu này không cho thấy mối liên quan nhân quả giữa trị liệu với Seroquel và tử vong ở bệnh nhân cao tuổi sa sút trí tuệ.
Tương tác thuốc
Phối hợp Seroquel với các thuốc gây cảm ứng men gan như carbamazepine có thể làm giảm đáng kể mức độ tiếp xúc với quetiapine tính theo nồng độ và thời gian. Tùy theo đáp ứng lâm sàng, cần xem xét sử dụng liều Seroquel cao hơn khi phối hợp Seroquel với các thuốc gây cảm ứng men gan.
Khi phối hợp với các thuốc ức chế CYP3A4 mạnh (như thuốc kháng nấm nhóm azole, thuốc kháng sinh macrolide và thuốc ức chế protease), nồng độ quetiapine trong huyết tương có thể cao hơn đáng kể đã được ghi nhận ở bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng (Xem thêm "Dược Động Học"). Do đó, nên sử dụng Seroquel liều thấp hơn. Cần xem xét đặc biệt khi sử dụng thuốc cho bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân suy nhược. Nên cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ cho từng bệnh nhân.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy:
Vì Seroquel có thể gây buồn ngủ, bệnh nhân cần thận trọng khi vận hành máy, kể cả lái xe.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Hiệu quả và tính an toàn của Seroquel đối với phụ nữ mang thai chưa được xác lập (xem "An toàn tiền lâm sàng"). Vì vậy, chỉ nên sử dụng Seroquel trong thai kỳ khi lợi ích vượt trội các nguy cơ có thể xảy ra. Hiện chưa rõ mức độ tiết quetiapine vào sữa mẹ. Do đó phụ nữ nên ngưng cho con bú khi đang sử dụng Seroquel.
Tương tác thuốc
Quetiapine chủ yếu tác động trên hệ thần kinh trung ương, do đó nên thận trọng khi phối hợp Seroquel với các thuốc tác động trên hệ thần kinh trung ương khác và rượu.
Dược động học của lithium không thay đổi khi dùng đồng thời với Seroquel.
Dược động học của axít valproic và quetiapine không thay đổi về mặt lâm sàng khi dùng đồng thời valproate semisodium (còn có tên là divalproex sodium (USAN)) và Seroquel (quetiapine fumarate). Valproate semisodium là hợp chất ổn định gồm sodium valproate và axít valproic theo tỷ lệ phân tử lượng 1:1.
Dược động học của quetiapine không thay đổi đáng kể khi phối hợp với thuốc chống loạn thần risperidone hoặc haloperidol. Tuy nhiên, phối hợp Seroquel và thioridazine làm tăng độ thanh thải của quetiapine.
Quetiapine không gây cảm ứng các hệ men gan liên quan đến sự chuyển hóa thuốc hạ sốt. Tuy nhiên, trong một thử nghiệm đa liều để đánh giá dược động học của quetiapine sử dụng trước và trong quá trình điều trị với carbamazepine (được xem là chất gây cảm ứng men gan), sự phối hợp với carbamazepine làm tăng đáng kể độ thanh thải của quetiapine. Sư tăng độ thanh thải này làm giảm nồng độ quetiapine toàn thân (đánh giá qua AUC) trung bình 13% so với khi chỉ sử dụng quetiapine đơn thuần; mặc dù ở một số bệnh nhân tác động đó có thể lớn hơn. Do sự tương tác này, nồng độ thuốc trong huyết tương có thể thấp hơn, và vì vậy, cần xem xét sử dụng Seroquel với liều cao hơn cho từng bệnh nhân, tùy thuộc đáp ứng lâm sàng. Cần lưu ý rằng liều khuyến cáo tối đa của Seroquel là 750 mg/ngày trong điều trị tâm thần phân liệt và 800 mg/ngày trong điều trị các cơn hưng cảm liên quan đến rối loạn lưỡng cực. Chỉ nên xem xét tiếp tục điều trị với thuốc ở liều cao hơn sau khi đánh giá cẩn thận lợi ích và nguy cơ cho từng bệnh nhân. Phối hợp Seroquel với thuốc gây cảm ứng men của ty thể (microsomal enzyme), như phenytoin, cũng làm tăng độ thanh thải quetiapine. Có thể cần tăng liều Seroquel để duy trì kiểm soát các triệu chứng tâm thần ở bệnh nhân sử dụng phối hợp Seroquel với phenytoin hoặc các thuốc gây cảm ứng men gan khác (như barbiturates, rifampicin). Có thể cần giảm liều Seroquel nếu ngưng phenytoin hoặc carbamazepine hoặc các thuốc gây cảm ứng men gan khác và thay thế bằng các thuốc không gây cảm ứng men gan (như sodium valproate).
CYP3A4 là men chính chịu trách nhiệm chuyển hóa quetiapine qua trung gian cytochrome P450. Dược động học của quetiapine không thay đổi khi phối hợp với cimetidine- thuốc ức chế men P450. Dược động học của quetiapine không thay đổi đáng kể khi phối hợp với các thuốc chống trầm cảm imipramine (chất ức chế CYP2D6) hoặc fluoxetine (chất ức chế CYP3A4 và CYP2D6). Tuy nhiên, cần thận trọng khi phối hợp Seroquel với các thuốc ức chế CYP3A4 mạnh (các thuốc kháng nấm azole, các kháng sinh macrolide và thuốc ức chế protease) (Xem thêm "Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng" và "Dược động học").
Tác dụng ngoại ý
Các biến cố ngoại ý (ADRs) thường gặp của Seroquel là buồn ngủ, chóng mặt, khô miệng, suy nhược nhẹ, táo bón, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp thế đứng, và khó tiêu.
Giống như các thuốc chống loạn thần khá, ngất, hội chứng ác tính do thuốc an thần, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính và phù ngoại biên có thể xảy ra.
Tần suất của các biến cố ngoại ý khi điều trị với Seroquel được trình bày dưới đây theo phân loại của Hội đồng Các Tổ chức Quốc tế về Khoa học Y học (CIOMS III Working Group; 1995).
Rất thường gặp (≥ 10%):
Rối loạn chức năng hệ thần kinh: hoa mắt, chóng mặt1,5, buồn ngủ2.
Thường gặp: (≥ 1%-<10%)
- Rối loạn chức năng hệ thần kinh: ngất1,5.
- Rối loạn chức năng hệ hô hấp, ngực và trung thất: viêm mũi.
- Rối loạn chức năng hệ máu và bạch huyết: giảm bạch cầu.
- Rối loạn chức năng tim: nhịp tim nhanh1,5.
- Rối loạn chức năng mạch máu: hạ huyết áp thế đứng1,5.
- Rối loạn chức năng hệ tiêu hóa: khô miệng, táo bón, khó tiêu.
- Tác dụng phụ tại chỗ và toàn thân: suy nhược nhẹ, phù ngoại biên.
- Cận lâm sàng: tăng cân3, tăng transaminase huyết thanh (ALT, AST)4, giảm bạch cầu trung tính7, đường máu tăng đến mức bệnh lý8.
Ít gặp: (≥ 0,1%-<1%)
- Rối loạn chức năng hệ máu và bạch huyết: tăng bạch cầu đa nhân ái toan.
- Rối loạn chức năng hệ miễn dịch: quá mẫn.
- Cận lâm sàng: tăng gamma-GT4, tăng triglyceride huyết thanh tại thời điểm bất kỳ, tăng cholesterol toàn phần (chủ yếu là LDL-C)
- Rối loạn chức năng hệ thần kinh: co giật1, hội chứng chân run.
Hiếm gặp: (0,01%-<0,1%)
- Tác dụng phụ tại chỗ và toàn thân: hội chứng ác tính do thuốc an thần1.
- Rối loạn chức năng hệ sinh dục: chứng cương dương.
Rất hiếm gặp: (< 0,01%)
Rối loạn hệ miễn dịch: phản ứng phản vệ6.
(1) Xem phần "Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng".
(2) Buồn ngủ có thể xảy ra, thường trong 2 tuần đầu và mất đi khi tiếp tục điều trị với Seroquel.
(3) Chủ yếu xảy ra trong các tuần bắt đầu điều trị với thuốc.
(4) Tăng không triệu chứng transaminase huyết thanh (ALT, AST) hoặc tăng gamma-GT đã được ghi nhận ở một số bệnh nhân sử dụng Seroquel. Các gia tăng này thường hồi phục khi tiếp tục điều trị với Seroquel.
(5) Cũng như các thuốc chống loạn thần ức chế alpha1 adrenergic, Seroquel có thể gây hạ huyết áp thế đứng, kèm theo chóng mặt, nhịp tim nhanh và ngất ở một số bệnh nhân, đặc biệt trong giai đoạn đầu điều chỉnh liều.
(6) Phản ứng phản vệ được đưa vào dựa trên các báo cáo sau khi đưa thuốc ra thị trường.
(7) Trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng đơn trị liệu có đối chứng với giả dược trên bệnh nhân có lượng bạch cầu khi bắt đầu thử nghiệm ≥ 1,5 x 109/L, tần suất xảy ra ít nhất 1 lần xét nghiệm lượng bạch cầu trung tính < 1,5 x 109/L là 1,72% ở nhóm bệnh nhân đang điều trị bằng Seroquel so với 0,73% ở nhóm dùng giả dược. Trên các thử nghiệm lâm sàng trước khi hiệu chỉnh đề cương nghiên cứu để ngưng thuốc đối với bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính < 1,0 x 109/L cần điều trị khẩn cấp, trong số bệnh nhân có lượng bạch cầu khi bắt đầu thử nghiệm ≥ 1,5 x 109/L, tần suất xảy ra ít nhất 1 lần xét nghiệm lượng bạch cầu trung tính < 1,5 x 109/L là 0,21% ở nhóm bệnh nhân đang điều trị bằng Seroquel so với 0% ở nhóm dùng giả dược và tần suất xảy ra ít nhất 1 lần xét nghiệm lượng bạch cầu trung tính ≥ 0,5-<1,0 x 109/L là 0,75% ở nhóm bệnh nhân đang điều trị bằng Seroquel so với 0,11% ở nhóm dùng giả dược.
(8) Glucose máu lúc đói ≥ 126 mg/dL hoặc glucose máu tại thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL xảy ra ít nhất trong 1 lần xét nghiệm.
Điều trị với Seroquel làm giảm nhẹ hormon tuyến giáp có liên quan đến liều, chủ yếu là T4 toàn phần và T4 tự do. Nồng độ T4 toàn phần và T4 tự do giảm tối đa trong 2-4 tuần đầu trị liệu với Seroquel, mà không giảm thêm nữa khi điều trị kéo dài. Trong hầu hết các trường hợp, tác động trên nồng độ T4 toàn phần và T4 tự do sẽ mất khi ngưng sử dụng Seroquel, bất kể thời gian sử dụng thuốc. Sư giảm nhẹ hơn nồng độ T3 toàn phần và rT3 chỉ xảy ra ở liều cao hơn. Nồng độ TBG không thay đổi và nhìn chung, chưa ghi nhận có sự gia tăng tương hỗ nồng độ TSH, do đó Seroquel không gây suy giáp lâm sàng.
Tăng đường huyết và tình trạng bệnh đái tháo đường trở nặng đã được báo cáo rất hiếm xảy ra trong quá trình điều trị với quetiapine.
Cũng như các thuốc chống loạn thần khác, Seroquel có thể liên quan đến việc tăng cân, chủ yếu trong những tuần đầu trị liệu.
Cũng như các thuốc chống loạn thần khác, Seroquel có thể làm kéo dài khoảng QTc, nhưng các thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc sử dụng thuốc không liên quan đến sự tăng thường xuyên khoảng QTc (xem "Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng").
Các phản ứng do ngưng thuốc đột ngột đã được báo cáo (xem 'Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng').
Liều lượng và cách dùng
Người lớn:
Điều trị tâm thần phân liệt: Nên uống Seroquel hai lần mỗi ngày, trong hoặc ngoài bữa ăn. Tổng liều mỗi ngày trong 4 ngày đầu điều trị là 50 mg (ngày 1), 100 mg (ngày 2), 200 mg (ngày 3) và 300 mg (ngày 4). Từ ngày thứ 4 trở đi, nên điều chỉnh liều theo liều thông thường có hiệu quả từ 300 đến 450 mg/ngày. Tùy theo đáp ứng lâm sàng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, có thể điều chỉnh liều trong khoảng 150 đến 750 mg/ngày.
Điều trị các cơn hưng cảm liên quan đến rối loạn lưỡng cực: Nên uống Seroquel hai lần mỗi ngày, trong hoặc ngoài bữa ăn. Đơn trị liệu hay điều trị hỗ trợ cho các thuốc ổn định trạng thái tâm thần, tổng liều mỗi ngày trong 4 ngày đầu điều trị là 100 mg (ngày 1), 200 mg (ngày 2), 300 mg (ngày 3) và 400 mg (ngày 4). Liều dùng có thể được điều chỉnh dần lên đến 800 mg/ngày vào ngày thứ 6 nhưng mỗi lần tăng không nên vượt quá 200 mg/ngày. Có thể điều chỉnh liều tùy theo đáp ứng lâm sàng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, trong khoảng 200 đến 800 mg/ngày. Liều thông thường có hiệu quả điều trị là 400-800 mg/ngày.
Người cao tuổi:
Giống như các thuốc chống loạn thần khác, nên thận trọng khi sử dụng Seroquel ở người cao tuổi, đặc biệt trong giai đoạn bắt đầu sử dụng thuốc. Bệnh nhân cao tuổi nên khởi đầu với Seroquel 25 mg/ngày. Nên tăng liều mỗi ngày, từng mức 25 đến 50 mg, đến liều đạt hiệu quả điều trị, thường thấp hơn liều đạt hiệu quả điều trị ở bệnh nhân trẻ tuổi.
Trẻ em và trẻ vị thành niên:
Tính an toàn và hiệu quả của Seroquel đối với trẻ em và trẻ vị thành niên chưa được đánh giá.
Bệnh nhân suy gan và suy thận:
Độ thanh thải quetiapine đường uống giảm khoảng 25% ở bệnh nhân suy gan hoặc suy thận. Quetiapine được chuyển hóa chủ yếu ở gan, và do đó nên sử dụng thận trọng ở bệnh nhân suy gan. Bệnh nhân suy gan hoặc suy thận nên khởi đầu với Seroquel 25 mg/ngày. Nên tăng liều mỗi ngày, từng mức 25 đến 50 mg, đến liều đạt hiệu quả điều trị.
Quá liều
Trong các thử nghiệm lâm sàng, đã ghi nhận các trường hợp sống sót khi dùng quá liều cấp lên đến 30 g quetiapine. Hầu hết bệnh nhân quá liều ghi nhận không có biến cố ngoại ý hoặc hồi phục hoàn toàn từ các biến cố ghi nhận. Đã ghi nhận trường hợp tử vong trong một thử nghiệm lâm sàng sau khi dùng quá liều 13,6 g quetiapine (không phối hợp với các thuốc khác).
Sau khi đưa thuốc ra thị trường, trường hợp báo cáo quá liều Seroquel (không phối hợp thuốc khác) gây tử vong hoặc hôn mê rất hiếm xảy ra.
Bệnh nhân đã mắc bệnh tim mạch nặng trước đây có thể tăng nguy cơ quá liều. (Xem "Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng").
Nhìn chung, các dấu hiệu và triệu chứng ghi nhận là do tăng tác động dược lý của thuốc, như ngầy ngật và an thần, nhịp tim nhanh và hạ huyết áp.
Chưa có chất giải độc đặc hiệu cho quetiapine. Trong trường hợp nhiễm độc nặng, cần xem xét đến khả năng do ảnh hưởng của nhiều thuốc, tiến hành các biện pháp săn sóc đặc biệt, bao gồm thiết lập và duy trì đường thở, đảm bảo thông khí và cung cấp oxy đầy đủ, theo dõi và hỗ trợ tim mạch.
Cần tiếp tục giám sát và theo dõi bệnh nhân chặt chẽ cho đến khi hồi phục hoàn toàn.
Bảo quản
Không bảo quản trên 30oC.
Nguồn: Vidal Việt Nam 2012

Submit "Seroquel" to Digg Submit "Seroquel" to del.icio.us Submit "Seroquel" to StumbleUpon Submit "Seroquel" to Google Submit "Seroquel" to Facebook Submit "Seroquel" to Twitter Submit "Seroquel" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Vidal VN

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook