Đọc và ngẫm: "Lại như xét bệnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bệnh, đó là tội dốt nát. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA

Thuốc

Desferal

Cho điểm
  • Desferal
  • Desferrioxamine methane sulfonate
  • Novartis Pharma
  • DKSH
DESFERAL
Novartis Pharma
c/o DKSH
Bột pha tiêm 500 mg : hộp 10 lọ
Thành phần
Cho 1 lọ
Desferrioxamine methane sulfonate 500 mg
Dược lực
Cơ chế tác dụng:
Desferrioxamine (DFO) tạo thành các phức hợp chủ yếu với các ion sắt hóa trị ba và nhôm hóa trị ba: hằng số tạo thành phức hợp là 1031 với sắt và 1025 với nhôm. Ái lực của desferrioxamine đối với các ion hóa trị 2 như Fe2+, Cu2+, Zn2+, Ca2+ thấp đáng kể (hằng số tạo thành phức hợp là 1014 hoặc thấp hơn). Sự chelat hóa xảy ra trên cơ sở phân tử 1:1 để cho 1 g desferrioxamine về lý thuyết có thể gắn với 85 mg sắt hóa trị ba hoặc 41 mg nhôm hóa trị ba.
Do đặc tính chelat hóa, desferrioxamine có khả năng thu nhận sắt tự do trong huyết tương hoặc trong tế bào, từ đó tạo thành phức hợp ferrioxamine (FO). Sự bài tiết sắt của ferrioxamine trong nước tiểu chủ yếu phản ánh sắt từ sự luân chuyển trong huyết tương trong khi sắt trong phân chủ yếu phản ánh sự chelat hóa sắt trong gan. Sắt có thể được chelat hóa từ ferritin và haemosiderin nhưng tương đối chậm ở các nồng độ desferrioxamine có liên quan trên lâm sàng. Tuy nhiên desferrioxamine không loại bỏ sắt khỏi transferrin hoặc hemoglobin hoặc các chất chứa haemin khác.
Desferrioxamine cũng có thể huy động và chelat nhôm, hình thành phức hợp aluminoxamine (AIO).
Các tác dụng dược lực học:
Vì cả hai phức hợp ferrioxamine và aluminoxamine đều được bài tiết hoàn toàn, desferrioxamine làm tăng cường thải trừ sắt và nhôm trong nước tiểu và phân, vì vậy làm giảm sự ứ đọng sắt và nhôm bệnh lý ở các cơ quan.
Dược động học
Hấp thu:
Desferrioxamine được hấp thu nhanh chóng sau khi tiêm bắp cả liều (bolus) hoặc truyền dưới da chậm, nhưng chỉ được hấp thu ít ở đường tiêu hóa khi niêm mạc còn nguyên vẹn. Sinh khả dụng tuyệt đối < 2% sau khi uống 1 g desferrioxamine.
Trong khi thẩm phân màng bụng, desferrioxamine được hấp thu nếu được dùng trong dịch thẩm phân.
Phân bố:
Ở những người tình nguyện khỏe mạnh, nồng độ đỉnh trong huyết tương là 15,5 micromol/L (8,7 microgram/mL) được đo 30 phút sau khi tiêm bắp 10 mg/kg desferrioxamine. 1 giờ sau khi tiêm, nồng độ đỉnh của ferrioxamine là 3,7 micromol/L (2,3 microgram/mL). Sau khi truyền tĩnh mạch 2 g (khoảng 29 mg/kg) desferrioxamine cho những người tình nguyện khỏe mạnh trong 2 giờ, nồng độ desferrioxamine trung bình ở trạng thái ổn định đạt được là 30,5 micromol/L; sự phân bố desferrioxamine rất nhanh với bán thời gian phân bố trung bình là 0,4 giờ. Dưới 10% desferrioxamine gắn với protein huyết thanh in vitro.
Biến đổi sinh học:
4 chất chuyển hóa của desferrioxamine được phân lập và nhận dạng từ nước tiểu của những bệnh nhân bị thừa sắt. Các phản ứng biến đổi sinh học sau đây đã thấy xảy ra với desferrioxamine: transamin hóa và oxy hóa tạo ra một chất chuyển hóa acid, beta-oxy hóa cũng tạo ra một chất chuyển hóa acid, khử carboxyl hóa và N-hydroxyl hóa tạo ra các chất chuyển hóa trung tính.
Thải trừ:
Cả desferrioxamine và ferrioxamine có sự thải trừ hai pha sau khi tiêm bắp ở những người tình nguyện khỏe mạnh; đối với desferrioxamine thời gian bán phân bố biểu kiến là 1 giờ và đối với ferrioxamine là 2,4 giờ. Thời gian bán thải cuối biểu kiến là 6 giờ đối với cả hai chất. Trong vòng 6 giờ sau khi tiêm, 22% liều dùng xuất hiện trong nước tiểu dưới dạng desferrioxamine và 1% dưới dạng ferrioxamine.
Các đặc tính ở bệnh nhân:
Ở bệnh nhân bị chứng nhiễm sắc tố sắt, nồng độ đỉnh trong huyết tương là 7,0 micromol/L (3,9 microgram/mL) đo được đối với desferrioxamine, và 15,7 micromol/L (9,6 microgram/mL) đối với ferrioxamine, 1 giờ sau khi tiêm bắp 10 mg/kg desferrioxamine. Những bệnh nhân này đã thải trừ desferrioxamine với thời gian bán thải là 5,6 giờ và thải trừ ferrioxamine với thời gian bán thải là 4,6 giờ. Sáu giờ sau khi tiêm, 17% liều dùng được bài tiết trong nước tiểu dưới dạng desferrioxamine và 12% dưới dạng ferrioxamine.
Ở bệnh nhân bị bệnh Thalassemia, truyền tĩnh mạch desferrioxamine liên tục 50 mg/kg/24 giờ dẫn đến nồng độ desferrioxamine trong huyết tương ở trạng thái ổn định là 7,4 micromol/L (4,1 microgram/mL). Sự thải trừ desferrioxamine khỏi huyết tương là 2 pha với thời gian bán phân bố trung bình là 0,28 giờ và thời gian bán thải cuối biểu kiến là 3,0 giờ. Hệ số thanh thải huyết tương toàn phần là 0,5 L/giờ/kg và thể tích phân bố ở trạng thái ổn định ước tính là 1,35 L/kg. Nồng độ tồn lưu của chất chuyển hóa chính gắn kết với sắt khoảng 54% của nồng độ desferrioxamine tồn lưu về diện tích dưới đường cong nồng độ (AUC). Thời gian bán thải biểu kiến một số mũ của chất chuyển hóa là 1,3 giờ.
Ở bệnh nhân thẩm phân để điều trị suy thận là những người dùng 40 mg/kg desferrioxamine truyền tĩnh mạch trong vòng 1 giờ, nồng độ trong huyết tương vào cuối lần truyền là 152 micromol/L (85,2 microgram/mL) khi truyền giữa các đợt thẩm phân. Nồng độ desferrioxamine trong huyết tương thấp hơn 13-27% khi truyền trong khi đang thẩm phân. Nồng độ của desferrioxamine trong tất cả trường hợp khoảng 7,0 micromol/L (4,3 microgram/mL); và đối với aluminoxamine (AIO) là 2-3 micromol/L (1,2-1,8 microgram/mL). Sau khi ngừng truyền, nồng độ desferrioxamine trong huyết tương giảm nhanh chóng với thời gian bán thải là 20 phút. Một phần nhỏ liều dùng được thải trừ với thời gian bán thải lâu hơn là 14 giờ. Nồng độ aluminoxamine trong huyết tương tiếp tục tăng đến 48 giờ sau khi truyền và đạt đến trị số khoảng 7 micromol/L (4 microgram/mL). Sau khi thẩm phân, nồng độ aluminoxamine trong huyết tương hạ xuống còn 2,2 micromol/L (1,3 microgram/mL).
An toàn tiền lâm sàng
Tiêm dưới da desferrioxamine liều cao cho chuột cống, chó và mèo trong vài tuần đã gây đục nhân mắt, với sự hình thành đục thủy tinh thể.
Desferrioxamine không cho thấy bằng chứng về tác dụng độc gen/gây đột biến trong các thử nghiệm in vitro (thử nghiệm Ames) và thử nghiệm in vivo (thử nghiệm nhân nhỏ ở chuột cống).
Các nghiên cứu dài hạn về tính gây ung thư chưa được thực hiện.
Desferrioxamine không gây quái thai ở chuột cống và chuột nhắt. Ở thai thỏ phơi nhiễm trong tử cung với các liều gây độc cho vật mẹ, đã thấy một số dị dạng về thân bộ xương. Mặc dù các kết quả của nghiên cứu này được xem là có tính chất sơ bộ, không thể loại trừ khả năng gây quái thai do desferrioxamine ở thỏ trong những điều kiện thử nghiệm đã sử dụng.
Chỉ định
Dùng trong điều trị:
- Đơn trị liệu chelat hóa sắt để điều trị thừa sắt mạn tính, ví dụ:
* Nhiễm hemosiderin do truyền máu, gặp trong bệnh Thalassaemia thể thường gặp, thiếu máu nguyên bào sắt, thiếu máu tan huyết tự miễn và các thiếu máu mạn tính khác.
* Nhiễm sắc tố sắt tự phát (nguyên phát) ở những bệnh nhân có các rối loạn đồng thời (ví dụ thiếu máu nặng, bệnh tim, giảm protein huyết) ngăn cản thủ thuật trích máu tĩnh mạch.
* Thừa sắt liên quan đến bệnh rối loạn chuyển hóa porphyrin biểu hiện da muộn ở những bệnh nhân không chịu được thủ thuật trích máu tĩnh mạch.
- Điều trị ngộ độc sắt cấp tính.
- Điều trị thừa nhôm mạn tính ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối (đang điều trị duy trì bằng thẩm phân) có biểu hiện:
* bệnh về xương liên quan đến nhôm,
* bệnh não do thẩm phân hoặc
* thiếu máu liên quan đến nhôm.
Dùng trong chẩn đoán:
Dùng để chẩn đoán thừa sắt hoặc thừa nhôm.
Chống chỉ định
Đã biết quá mẫn cảm với hoạt chất của thuốc, trừ khi giải mẫn cảm được thì có thể dùng thuốc.
Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng
Chú ý đề phòng:
Truyền tĩnh mạch nhanh có thể dẫn đến hạ huyết áp và sốc (như đỏ bừng mặt, nhịp tim nhanh, trụy mạch và nổi mề đay).
Liều cao Desferal, đặc biệt ở những bệnh nhân có nồng độ ferritin huyết tương thấp, có thể dẫn đến rối loạn thị giác và thính giác (Xem phần Tác dụng ngoại ý). Những bệnh nhân suy thận đang điều trị duy trì bằng thẩm phân và có nồng độ ferritin huyết tương thấp, có thể đặc biệt dễ bị phản ứng phụ, đã ghi nhận các triệu chứng về thị giác sau khi dùng các liều đơn Desferal. Nguy cơ có tác dụng phụ giảm khi điều trị với liều thấp. Nếu xảy ra rối loạn thị giác hoặc thính giác, phải ngừng dùng thuốc ngay lập tức. Các thay đổi do Desferal thường có thể phục hồi được nếu được nhận biết sớm. Có thể điều trị Desferal trở lại sau đó với liều giảm và theo dõi chặt chẽ chức năng thính-thị giác.
Khoảng một nửa phức hợp kim loại được bài tiết qua thận ở những bệnh nhân thừa sắt có chức năng thận bình thường. Vì vậy, cần thận trọng khi chỉ định ở bệnh nhân suy thận nặng. Phức hợp desferrioxamine với sắt và nhôm có thể thẩm phân được, ở bệnh nhân bị suy thận sự thải trừ những phức hợp này sẽ tăng lên do thẩm phân.
Bệnh nhân có nồng độ ferritin huyết thanh thấp khi dùng Desferal liều cao, hoặc bệnh nhân nhỏ tuổi (< 3 tuổi lúc bắt đầu điều trị) có liên quan với chậm tăng trưởng (Xem phần Liều lượng và cách dùng: "điều trị thừa sắt mạn tính"). Chậm tăng trưởng nếu có liên quan với liều Desferal cao quá mức phải được phân biệt với chậm tăng trưởng do thừa sắt. Hiếm gặp chậm tăng trưởng do Desferal nếu liều dùng được giữ dưới 40 mg/kg; nếu chậm tăng trưởng có liên quan với các liều dùng cao hơn trị số này, lúc đó việc giảm liều có thể dẫn đến trở về tốc độ tăng trưởng, tuy nhiên không đạt được chiều cao dự đoán ở người trưởng thành.
Hội chứng suy hô hấp cấp đã được mô tả sau khi điều trị các liều Desferal tiêm tĩnh mạch cao quá mức ở những bệnh nhân bị ngộ độc sắt cấp tính, và cũng gặp ở bệnh nhân bị bệnh Thalassemia. Vì vậy không nên vượt quá liều dùng khuyến cáo hàng ngày.
Ở những bệnh nhân bị thừa sắt, đã có báo cáo là Desferal làm tăng tính mẫn cảm đối với nhiễm khuẩn ví dụ với Yersinia enterocolitica và Yersinia pseudotuberculosis. Nếu một bệnh nhân đang điều trị bằng Desferal bị sốt kèm theo viêm ruột non/viêm ruột non-kết cấp, đau bụng lan tỏa hoặc viêm họng, nên tạm ngừng điều trị, thực hiện các xét nghiệm về vi khuẩn học và bắt đầu điều trị kháng sinh thích hợp ngay lập tức. Sau khi điều trị xong nhiễm khuẩn có thể tiếp tục điều trị bằng Desferal.
Ở những bệnh nhân đang dùng Desferal để điều trị thừa nhôm và/hoặc thừa sắt, đã có báo cáo trong những trường hợp hiếm gặp về bệnh nấm Mucor, một số trường hợp bị tử vong. Nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào nghi ngờ, phải ngừng Desferal, thực hiện xét nghiệm về nấm và tiến hành điều trị thích hợp ngay lập tức. Bệnh nấm Mucor cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân không phải đang điều trị Desferal, cho thấy là các yếu tố quyết định khác như thẩm phân, đái tháo đường, rối loạn cân bằng acid-base, bệnh ác tính về máu, thuốc ức chế miễn dịch hoặc hệ miễn dịch suy yếu có thể đóng vai trò trong việc làm phát sinh nhiễm khuẩn này.
Sự bài tiết phức hợp sắt có thể làm nước tiểu có màu hơi đỏ nâu.
Thận trọng lúc dùng:
Không nên dùng liều Desferal cao hơn liều khuyến cáo. Thuốc này không nên dùng với nồng độ cao hơn 10% vì điều này làm tăng nguy cơ các phản ứng tại chỗ do tiêm dưới da (Xem phần Hướng dẫn sử dụng và thao tác). Khi việc dùng đường tiêm bắp là lựa chọn duy nhất thì có thể cần phải dùng các nồng độ cao hơn để dễ tiêm.
Ở nồng độ 10% được khuyến cáo, dung dịch đã pha trong suốt, không màu đến vàng nhạt. Chỉ nên dùng dung dịch trong suốt. Những dung dịch mờ đục hoặc vẩn đục phải loại bỏ. Phải hết sức cẩn thận với kỹ thuật tiêm.
Đối với việc truyền dưới da, không nên đưa kim vào quá gần với chân bì.
Ở những bệnh nhân bị thừa sắt mạn tính nặng, đã có báo cáo về suy giảm chức năng tim sau khi điều trị phối hợp Desferal và liều cao vitamin C (hơn 500 mg/ngày). Rối loạn chức năng tim có thể phục hồi được khi ngừng dùng vitamin C. Nên áp dụng các thận trọng sau đây khi dùng đồng thời Desferal và vitamin C:
* Không được bổ sung thêm vitamin C cho bệnh nhân bị suy tim.
* Chỉ bắt đầu điều trị với vitamin C sau khi khởi đầu điều trị đều đặn với Desferal được 1 tháng.
* Chỉ dùng vitamin C nếu bệnh nhân đang dùng đều đặn Desferal, tốt nhất là dùng ngay sau khi cố định xong bơm truyền.
* Không được vượt quá liều hàng ngày là 200 mg vitamin C, chia làm nhiều lần.
* Phải theo dõi chức năng tim trong suốt thời gian điều trị phối hợp như trên.
Cần kiểm tra thị giác và thính giác ở các bác sĩ chuyên khoa trước khi bắt đầu điều trị với Desferal và định kỳ sau đó (3 tháng một lần), đặc biệt là nếu nồng độ ferritin thấp. Bằng cách giữ cho tỷ số liều Desferal trung bình hàng ngày (mg/kg) chia cho nồng độ ferritin huyết thanh (microgram/L) dưới 0,025, nguy cơ bất thường khi đo thính lực có thể giảm ở bệnh nhân Thalassemia.
Những bệnh nhi đang điều trị bằng Desferal cần được theo dõi về thể trọng và sự tăng trưởng về chiều cao 3 tháng một lần (Xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
Ở những bệnh nhân bị bệnh não liên quan đến nhôm, liều cao Desferal có thể làm tăng nặng thêm rối loạn chức năng thần kinh (cơn động kinh), có thể do tăng nhanh lượng nhôm trong tuần hoàn. Desferal có thể thúc đẩy khởi phát chứng sa sút trí tuệ do thẩm phân. Điều trị trước với clozanepam đã ghi nhận có tác dụng phòng ngừa sự hư hại thần kinh này. Ngoài ra, điều trị thừa nhôm có thể dẫn đến giảm lượng canxi huyết thanh và làm tăng nặng thêm chứng tăng năng tuyến cận giáp.
Tác động của thuốc khi lái xe và vận hành máy móc:
Những bệnh nhân bị chóng mặt hoặc có các rối loạn thần kinh trung ương khác, hoặc suy giảm thị giác hay thính giác nên tránh lái xe hoặc vận hành máy móc (xem phần Tác dụng ngoại ý).
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Có thai:
Desferrioxamine cho thấy khả năng gây quái thai ở thỏ (Xem phần An toàn tiền lâm sàng). Cho đến nay, tất cả bệnh nhân đã điều trị Desferal trong khi mang thai đều báo cáo sinh ra các trẻ không có bất cứ dị dạng nào. Trong khi mang thai, đặc biệt là 3 tháng đầu, chỉ dùng thuốc nếu việc sử dụng là bắt buộc.
Phụ nữ có khả năng mang thai:
Trong mỗi trường hợp, phải cân nhắc giữa lợi ích cho người mẹ so với nguy cơ đối với trẻ.
Cho con bú:
Chưa rõ có phải desferrioxamine đi vào sữa mẹ hay không.
Tương tác thuốc
Điều trị đồng thời Desferal và prochlorperazine - một dẫn xuất của phenothiazine, có thể dẫn đến suy giảm ý thức tạm thời.
Ở bệnh nhân bị bệnh thừa sắt mạn tính nặng đang điều trị phối hợp Desferal và vitamin C liều cao (hơn 500 mg/ngày), đã gặp suy giảm chức năng tim (Xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng); trường hợp này có thể phục hồi được khi ngừng dùng vitamin C.
Kết quả hình ảnh Galli-67 có thể bị sai lệch do sự đào thải nhanh ra nước tiểu phức hợp Desferal gắn với galli-67. Nên ngừng dùng Desferal 48 giờ trước khi chụp nhấp nháy.
Tác dụng ngoại ý
Các phản ứng phụ được xếp loại theo đề mục về tần suất, đầu tiên là hay gặp nhất, sử dụng quy ước sau đây: rất hay gặp (≥1/10), hay gặp (≥1/100, < 1/10), ít gặp (≥1/1000, < 1/100), hiếm gặp (≥1/10.000, < 1/1000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), bao gồm cả các báo cáo lẻ tẻ. Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng phụ được xếp theo thứ tự độ nghiêm trọng giảm dần.
Một số dấu hiệu và triệu chứng đã được báo cáo là phản ứng phụ cũng có thể là biểu hiện của bệnh có sẵn (thừa sắt và/hoặc thừa nhôm).
- Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng
Hiếm gặp: Bệnh nấm Mucor (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
Rất hiếm gặp: Viêm dạ dày ruột Yersinia (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Rối loạn máu và hệ bạch huyết
Rất hiếm gặp: Rối loạn về máu (kể cả giảm tiểu cầu).
- Rối loạn hệ miễn dịch
Rất hiếm gặp: Sốc phản vệ, phản ứng phản vệ, phù thần kinh mạch.
- Rối loạn hệ thần kinh
Hay gặp: Nhức đầu.
Rất hiếm gặp: Rối loạn thần kinh, chóng mặt, thúc đẩy hoặc làm nặng thêm bệnh não do thẩm phân liên quan đến nhôm, bệnh thần kinh ngoại biên, dị cảm (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Rối loạn mắt
Hiếm gặp: Mất thị giác, ám điểm, thoái hóa võng mạc, viêm thần kinh thị, đục thủy tinh thể, giảm thị lực, nhìn mờ, quáng gà, tổn hại thị trường, loạn sắc thị (suy giảm nhìn màu), đục giác mạc (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng và phần Lưu ý đặc biệt dưới đây).
- Rối loạn tai và mê đạo
Ít gặp: Điếc thần kinh cảm giác, ù tai (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng và phần Lưu ý đặc biệt dưới đây).
- Rối loạn mạch
Hiếm gặp: Hạ huyết áp nếu không tuân theo thận trọng khi dùng (xem phần Liều lượng và cách dùng và Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
Ít gặp: Hen.
Rất hiếm gặp: Suy hô hấp cấp, thâm nhiễm phổi (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Rối loạn tiêu hóa
Hay gặp: Buồn nôn.
Ít gặp: Nôn, đau bụng.
Rất hiếm gặp: Tiêu chảy.
- Rối loạn da và mô dưới da
Hay gặp: Nổi mề đay.
Rất hiếm gặp: Nổi ban toàn thân.
- Rối loạn cơ xương và mô liên kết
Rất hay gặp: Đau khớp, đau cơ.
Hay gặp: Chậm tăng trưởng và rối loạn xương (ví dụ loạn sản hành xương) khi dùng liều cao và ở trẻ nhỏ (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Rối loạn thận và tiết niệu
Rất hiếm gặp: Suy thận (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ tiêm
Rất hay gặp: Phản ứng tại chỗ tiêm bao gồm đau, sưng, thâm nhiễm, ban đỏ, ngứa, loét hoại tử, đóng vảy (xem phần Lưu ý đặc biệt dưới đây).
Hay gặp: Sốt.
Ít gặp: Phản ứng tại chỗ tiêm bao gồm mụn nước, phù, nóng rát (xem phần Lưu ý đặc biệt dưới đây).
Lưu ý đặc biệt:
Điếc thần kinh cảm giác và ù tai ít gặp nếu giữ các liều theo hướng dẫn và giảm liều khi nồng độ ferritin hạ xuống (tỷ số liều Desferal trung bình hàng ngày chia cho nồng độ ferritin nên dưới 0,025).
Các rối loạn về mắt khác nhau hiếm gặp, ngoại trừ nếu dùng liều cao (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
Chậm tăng trưởng và rối loạn xương (ví dụ loạn sản hành xương) hay gặp với các liều trên 60 mg/kg, đặc biệt khi bắt đầu chelat hóa sắt vào 3 năm đầu đời. Với các liều 40 mg/kg hoặc thấp hơn, nguy cơ này giảm đáng kể.
Tại chỗ tiêm, rất hay gặp đau, sưng, thâm nhiễm, ban đỏ, ngứa và loét hoại tử/đóng vảy, mụn nước, phù tại chỗ và nóng rát là những phản ứng ít gặp. Các biểu hiện tại chỗ có thể đi kèm với các phản ứng toàn thân như đau khớp/đau cơ (rất hay gặp), nhức đầu (hay gặp), nổi mề đay (hay gặp, buồn nôn (hay gặp), sốt (hay găp), nôn (ít gặp), đau bụng (ít gặp) hoặc hen (ít gặp).
Liều lượng và cách dùng
Điều trị thừa sắt mạn tính:
Mục đích chính của liệu pháp chelat hóa trong trường hợp thừa sắt ở bệnh nhân trẻ là để đạt được sự cân bằng sắt và ngăn ngừa nhiễm hemosiderin, trong khi đó ở bệnh nhân cao tuổi là để tạo được sự cân bằng sắt âm tính nhằm làm giảm từ từ sự tích lũy sắt tăng lên và để ngăn ngừa các tác dụng gây độc của sắt.
Trẻ em và người lớn:
Điều trị bằng Desferal nên bắt đầu sau 10-20 lần truyền máu đầu tiên hoặc khi nồng độ ferritin huyết thanh đạt đến 1000 ng/mL. Sự chậm tăng trưởng có thể là do thừa sắt hoặc do các liều Desferal cao quá mức. Nếu việc chelat hóa bắt đầu trước 3 tuổi, phải theo dõi cẩn thận sự tăng trưởng và liều dùng trung bình hàng ngày không nên vượt quá 40 mg/kg.
Liều dùng và cách dùng có thể được xác định theo từng bệnh nhân và được điều chỉnh trong quá trình điều trị tùy theo độ nặng của tình trạng thừa sắt ở bệnh nhân. Nên dùng liều thấp nhất mà có hiệu quả. Để đánh giá đáp ứng đối với liệu pháp chelat hóa, có thể bắt đầu theo dõi hàng ngày sự bài tiết sắt trong nước tiểu trong 24 giờ và xác định đáp ứng đối với các liều Desferal tăng dần. Một khi đã xác định liều thích hợp, có thể đánh giá mức độ bài tiết sắt trong nước tiểu cách vài tuần một lần. Một cách khác là có thể điều chỉnh liều trung bình hàng ngày theo trị số ferritin để giữ cho chỉ số điều trị dưới 0,025 (tức là liều Desferal trung bình hàng ngày (mg/kg) chia cho nồng độ ferritin huyết thanh (microgram/L) dưới 0,025. Liều Desferal trung bình hàng ngày thường là 20-60 mg/kg.
Nói chung bệnh nhân có nồng độ ferritin huyết thanh dưới 2000 ng/mL cần khoảng 25 mg/kg/ngày. Bệnh nhân có nồng độ ferritin huyết thanh 2000 - 3000 ng/mL cần khoảng 35 mg/kg/ngày. Bệnh nhân có nồng độ ferritin huyết thanh cao hơn có thể cần đến 55 mg/kg/ngày. Không nên thường xuyên vượt quá liều trung bình hàng ngày là 50 mg/kg/ngày ngoại trừ khi cần chelat hóa rất mạnh ở những bệnh nhân đã tăng trưởng hoàn toàn. Nếu các trị số ferritin hạ dưới 1000 ng/mL, nguy cơ nhiễm độc Desferal tăng lên; điều quan trọng là phải theo dõi đặc biệt cẩn thận những bệnh nhân này và có thể xem xét giảm tổng liều hàng tuần. Liều dùng là liều trung bình hàng ngày. Vì hầu hết bệnh nhân dùng thuốc dưới 7 ngày/tuần, liều dùng thực sự mỗi lần truyền thường khác với liều trung bình hàng ngày; ví dụ nếu cần một liều trung bình hàng ngày là 40 mg/kg/ngày và bệnh nhân mang bơm 5 đêm/tuần, mỗi lần truyền sẽ chứa 56 mg/kg.
Việc chelat hóa thường xuyên bằng Desferal đã cho thấy cải thiện tuổi thọ trung bình ở bệnh nhân bị bệnh Thalassemia.
Truyền dưới da chậm bằng một bơm truyền dễ mang, trọng lượng nhẹ trong thời gian 8-12 giờ được xem là có hiệu quả và rất thuận tiện cho những bệnh nhân đi lại được, nhưng cũng có thể được dùng trong thời gian 24 giờ. Desferal nên được dùng với bơm 5-7 lần/tuần. Desferal không được sản xuất để tiêm cả liều (bolus) dưới da.
Truyền tĩnh mạch trong khi truyền máu:
Việc có sẵn đường truyền tĩnh mạch trong khi truyền máu làm cho việc truyền thuốc đường tĩnh mạch có thể thực hiện mà không có sự bất tiện nào thêm đối với bệnh nhân. Điều này đặc biệt hữu ích đối với những bệnh nhân ít chịu được cách truyền dưới da. Không nên cho dung dịch Desferal trực tiếp vào túi đựng máu mà có thể cho vào dây truyền máu bằng một bộ phận nối tiếp hình chữ "Y" đặt gần vị trí tiêm tĩnh mạch. Bơm của bệnh nhân nên được sử dụng để dùng Desferal như thường lệ. Cần cảnh báo bệnh nhân và y tá để tránh truyền nhanh, vì truyền Desferal cả liều (bolus) vào tĩnh mạch có thể dẫn đến trụy mạch cấp (Xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
Truyền tĩnh mạch liên tục:
Hệ thống gắn vào tĩnh mạch có thể dùng khi thực hiện chelat hóa mạnh. Truyền tĩnh mạch liên tục được chỉ định cho những bệnh nhân không thể tiếp tục truyền dưới da và cho những người có các vấn đề về tim thứ phát do thừa sắt. Liều Desferal tùy thuộc vào mức độ thừa sắt của bệnh nhân. Nên đo thường xuyên lượng sắt bài tiết trong nước tiểu trong 24 giờ khi cần chelat hóa mạnh (đường tĩnh mạch), và điều chỉnh liều tương ứng. Phải cẩn thận khi rửa sạch dây truyền để tránh truyền đột ngột lượng Desferal còn sót lại trong khoảng không dùng của dây truyền, vì điều này có thể dẫn đến trụy mạch cấp (Xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
Dùng đường tiêm bắp:
Vì truyền dưới da hiệu quả hơn, chỉ tiêm bắp khi truyền dưới da không thể thực hiện được.
Bất cứ đường dùng nào được chọn, liều duy trì cho từng bệnh nhân sẽ tùy thuộc vào mức độ bài tiết sắt ở bệnh nhân.
Dùng đồng thời với vitamin C:
Bệnh nhân thừa sắt thường bị thiếu vitamin C, có thể là do sắt oxy hóa vitamin. Như một điều trị bổ trợ cho liệu pháp chelat hóa, có thể dùng vitamin C với liều đến 200 mg/ngày chia làm nhiều lần, bắt đầu sau tháng đầu điều trị đều đặn bằng Desferal (Xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng). Vitamin C làm tăng lượng sắt cho phản ứng chelat hóa. Nói chung, 50 mg là đủ cho trẻ em dưới 10 tuổi và 100 mg cho trẻ em lớn hơn. Liều vitamin C cao hơn không làm tăng thêm sự bài tiết phức hợp sắt.
Điều trị ngộ độc sắt cấp tính:
Desferal là điều trị bổ trợ cho các biện pháp chuẩn thường dùng trong điều trị ngộ độc sắt cấp tính.
Điều trị Desferal được chỉ định trong bất kỳ tình trạng nào sau đây:
* tất cả bệnh nhân về mặt triệu chứng cho thấy có nhiều hơn các triệu chứng nhẹ thoáng qua (ví dụ có nhiều hơn một giai đoạn nôn hoặc đi cầu phân mềm),
* bệnh nhân có biểu hiện ngủ lịm, đau bụng đáng kể, giảm thể tích máu hoặc nhiễm acid,
* bệnh nhân có các kết quả chụp X-quang bụng dương tính cho thấy nhiều sự cản tia X (đa số những bệnh nhân này tiếp tục tiến triển đến ngộ độc sắt triệu chứng),
* bất kỳ bệnh nhân nào về triệu chứng có nồng độ sắt huyết thanh cao hơn 300-350 microgram/dL bất kể khả năng kết hợp sắt toàn phần (TIBC). Cũng đã có đề nghị là nên xem xét một biện pháp bảo tồn mà không dùng liệu pháp Desferal hoặc nên xem xét cách khác khi nồng độ sắt huyết thanh ở mức 300-500 microgram/dL ở những bệnh nhân không có triệu chứng, cũng như ở những người nôn không có máu hoặc tiêu chảy tự giới hạn mà không có các triệu chứng khác.
Việc dùng Desferal truyền tĩnh mạch liên tục là đường dùng được chọn nhiều hơn, tốc độ truyền được khuyến cáo là 15 mg/kg/giờ và nên giảm liều ngay khi tình trạng cho phép, thường là sau 4-6 giờ để cho tổng liều dùng đường tĩnh mạch không vượt quá liều khuyến cáo là 80 mg/kg trong bất kỳ thời gian 24 giờ nào.
Tiêu chuẩn đề nghị sau đây được cho là tiêu biểu cho các yêu cầu thích hợp để ngừng dùng Desferal. Nên tiếp tục liệu pháp chelat hóa cho đến khi tất cả tiêu chuẩn sau đây được đáp ứng:
* bệnh nhân không được có bất kỳ dấu hịêu hoặc triệu chứng nào về ngộ độc sắt toàn thân (ví dụ không nhiễm acid, không nặng thêm nhiễm độc gan),
* tốt nhất là nồng độ sắt huyết thanh được điều chỉnh nên ở mức bình thường hoặc thấp (khi nồng độ sắt hạ dưới 100 microgram/dL). Các xét nghiệm không thể đo được nồng độ sắt huyết thanh chính xác khi đang dùng Desferal, có thể chấp nhận ngừng dùng Desferal khi tất cả các tiêu chuẩn khác đều đáp ứng nếu nồng độ sắt huyết thanh đo được không tăng,
* nên chụp X-quang bụng lặp lại ở những bệnh nhân cho thấy lúc khởi đầu có nhiều sự cản tia X để bảo đảm là chúng mất đi trước khi ngừng Desferal vì những dấu hiệu này giữ vai trò như một yếu tố chỉ thị về việc hấp thu sắt liên tục,
* nếu bệnh nhân có nước tiểu màu hồng nhạt khi khởi đầu điều trị bằng Desferal, dường như có khả năng là màu nước tiểu sẽ trở về bình thường trước khi ngừng Desferal (việc không có nước tiểu màu hồng nhạt tự nó không đủ để chỉ ra việc ngừng dùng Desferal).
Hiệu quả điều trị phụ thuộc vào lượng nước tiểu đầy đủ để bảo đảm là phức hợp ferrioxamine với sắt được bài tiết ra khỏi cơ thể. Nếu thiểu niệu hoặc vô niệu có thể cần phải thẩm phân màng bụng, thẩm phân máu hoặc lọc máu.
Điều trị thừa nhôm mạn tính ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối:
Phức hợp sắt và nhôm của Desferal có thể thẩm phân được. Ở bệnh nhân suy thận sự thải trừ những phức hợp này sẽ tăng lên do thẩm phân.
Những bệnh nhân có các triệu chứng hoặc rối loạn chức năng cơ quan do thừa nhôm nên điều trị Desferal. Ngay cả ở những bệnh nhân không có triệu chứng, nên xem xét điều trị Desferal nếu nồng độ nhôm huyết thanh liên tục cao hơn 60 ng/mL và có thử nghiệm truyền Desferal dương tính (xem dưới đây), đặc biệt là nếu các dấu hiệu sinh thiết xương cho thấy bằng chứng về bệnh xương liên quan đến nhôm.
Nên dùng Desferal với liều 5 mg/kg 1 lần mỗi tuần (Xem phần Hướng dẫn sử dụng và thao tác). Đối với những bệnh nhân có nồng độ nhôm huyết thanh sau xét nghiệm dùng desferrioxamine (DFO) lên đến 300 ng/mL thì nên dùng Desferal dưới dạng truyền tĩnh mạch chậm trong 60 phút cuối của một đợt thẩm phân. Đối với những bệnh nhân có trị số nhôm huyết thanh sau xét nghiệm dùng desferrioxamine trên 300 ng/mL thì nên dùng Desferal truyền tĩnh mạch chậm 5 giờ trước đợt thẩm phân. Sau khi hoàn tất đợt đầu điều trị bằng Desferal trong 3 tháng, tiếp theo là giai đoạn thải trừ sạch 4 tuần, nên tiến hành thử nghiệm truyền Desferal. Nếu hai thử nghiệm truyền Desferal liên tiếp được thực hiện cách nhau 1 tháng đem lại nồng độ nhôm trong huyết thanh dưới 50 ng/mL trên mức cơ bản thì không khuyến cáo điều trị Desferal thêm nữa.
Ở những bệnh nhân thẩm phân màng bụng liên tục ngoại trú (CAPD) hoặc thẩm phân màng bụng liên tục định kỳ (CCPD), nên dùng Desferal 1 lần hàng tuần với liều 5 mg/kg trước lần thẩm phân cuối cùng của ngày đó. Nên dùng đường trong màng bụng ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên Desferal cũng có thể dùng tiêm bắp, truyền tĩnh mạch chậm hoặc truyền dưới da chậm.
Thử nghiệm Desferal:
Thử nghiệm này dựa trên nguyên tắc là ở người bình thường thì Desferal không làm tăng bài tiết sắt và nhôm cao hơn một giới hạn nhất định.
1. Thử nghiệm Desferal phát hiện thừa sắt ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường
Desferal 500 mg được tiêm bắp. Sau đó lấy nước tiểu trong thời gian 6 giờ và xác định hàm lượng sắt. Sự thải trừ 1-1,5 mg (18-27 micromol) trong thời gian 6 giờ cho thấy có thừa sắt; các trị số cao hơn 1,5 mg (27 micromol) có thể xem là bệnh lý. Thử nghiệm này cho kết quả đáng tin cậy chỉ trong trường hợp chức năng thận bình thường.
2. Thử nghiệm truyền Desferal phát hiện thừa nhôm ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối
Thử nghiệm truyền Desferal được khuyến cáo ở những bệnh nhân có nồng độ nhôm trong huyết thanh vượt quá 60 ng/mL cùng với nồng độ ferritin huyết thanh trên 100 ng/mL.
Ngay trước khi bắt đầu thẩm phân máu, lấy một mẫu máu để xác định nồng độ nhôm cơ bản trong huyết thanh.
Trong 60 phút cuối của đợt thẩm phân máu, dùng liều 5 mg/kg truyền tĩnh mạch chậm (Xem phần Hướng dẫn sử dụng và thao tác).
Lúc bắt đầu đợt thẩm phân tiếp theo (tức là 44 giờ sau lần truyền Desferal nói trên), lấy mẫu máu lần thứ hai để xác định nồng độ nhôm trong huyết thanh một lần nữa.
Thử nghiệm Desferal được xem là dương tính nếu nồng độ nhôm trong huyết thanh tăng trên mức cơ bản vượt quá 150 ng/mL. Tuy nhiên thử nghiệm âm tính cũng không hoàn toàn loại trừ chẩn đoán thừa nhôm.
Hướng dẫn sử dụng và thao tác:
Khi dùng ngoài đường tiêu hóa, nên dùng thuốc này dưới dạng dung dịch 10% trong nước pha tiêm ngoại trừ tiêm bắp khi có thể cần nồng độ cao hơn. Bơm 5 mL nước pha tiêm vào lọ chứa 500 mg bột Desferal rồi lắc kỹ lọ thuốc. Chỉ dùng nếu dung dịch trong suốt, không màu đến màu vàng nhạt. Dung dịch Desferal 10% có thể được pha loãng thêm bằng các dung dịch truyền thường dùng (NaCl 0,9%, Glucose 5%, dung dịch Ringer, dung dịch Ringer-Lactate, dung dịch thẩm phân màng bụng như Dianeal 137 Glucose 2,27%, Dianeal PD4 Glucose 2,27% và CAPD/DPCA 2 Glucose 1,5%).
Đối với thử nghiệm truyền Desferal và điều trị thừa nhôm mạn tính, dung dịch Desferal trong lọ 5 mL là liều thích hợp (5 mg/kg) cho một bệnh nhân nặng 100 kg. Tùy theo thể trọng thực sự của bệnh nhân, lượng dung dịch Desferal thích hợp được rút từ lọ thuốc và thêm vào 150 mL nước muối 0,9% (dung dịch NaCl).
Desferal đã hòa tan cũng có thể được cho vào dịch thẩm phân và dùng trong màng bụng cho những bệnh nhân thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú (CAPD) hoặc thẩm phân phúc mạc liên tục định kỳ (CCPD).
Việc sử dụng Desferal để điều trị thừa sắt mạn tính bằng phương tiện bơm truyền dễ mang được mô tả trong phần thông tin cho bệnh nhân như sau:
1. Rút nước pha tiêm vào ống tiêm.
2. Sau khi lau sạch nút cao su của lọ Desferal bằng cồn, bơm lượng nước trong ống tiêm vào lọ.
3. Lắc kỹ lọ để hòa tan bột thuốc.
4. Hút lượng thuốc đã hòa tan vào ống tiêm.
5. Gắn một đầu ống truyền với ống tiêm, nối đầu kia với kim bướm, sau đó bơm dung dịch thuốc đầy kín ống truyền.
6. Đặt ống tiêm vào bơm truyền.
7. Để truyền thuốc, bạn có thể luồn kim bướm dưới da bụng, cánh tay, cẳng chân phía trên hoặc đùi. Điều quan trọng là phải làm sạch vùng da rất kỹ bằng cồn trước khi bạn đưa chắc kim vào đến khi cánh kim chạm vào nếp gấp da mà bạn đang giữ bằng tay tự do còn lại. Mũi kim phải được di động tự do khi lắc kim. Nếu không di động tự do được, có thể mũi kim ở quá gần da. Tiến hành lại ở một vị trí da khác sau khi đã làm sạch da bằng cồn.
8. Sau đó cố định kim và băng lại.
9. Bệnh nhân thường mang bơm truyền trên người bằng dây thắt lưng hay dây quàng qua vai. Nhiều bệnh nhân cho là dùng thuốc qua đêm là thuận tiện nhất.
Tương kỵ
- Dung dịch tiêm heparin.
- Nước muối sinh lý (0,9%) không nên dùng làm dung môi cho thuốc bột này, nhưng sau khi pha dung dịch Desferal với nước pha tiêm, có thể được dùng để pha loãng thêm.
Quá liều
Dấu hiệu và triệu chứng:
Vô ý dùng quá liều hoặc tiêm tĩnh mạch cả liều (bolus)/ truyền tĩnh mạch nhanh có thể xảy ra hạ huyết áp, nhịp tim nhanh và rối loạn tiêu hóa; đã có báo cáo về các biểu hiện cấp tính nhưng tạm thời về mất thị giác, mất ngôn ngữ, kích động, nhức đầu, buồn nôn, nhịp tim chậm cũng như suy thận cấp.
Điều trị:
Chưa có thuốc giải độc đặc hiệu. Cần ngừng dùng Desferal và áp dụng các biện pháp điều trị triệu chứng thích hợp.
Desferal có thể thẩm tách được.
Bảo quản
Bảo quản lọ chứa thuốc bột dưới 25oC.
1 lọ chỉ dùng một lần. Nên dùng thuốc ngay sau khi pha (bắt đầu điều trị trong vòng 3 giờ). Khi việc pha được thực hiện trong điều kiện vô khuẩn đã được công nhận, có thể bảo quản thuốc trong thời gian tối đa là 24 giờ ở nhiệt độ phòng trước khi dùng.
Nguồn: Vidal Việt Nam 2012

Submit "Desferal" to Digg Submit "Desferal" to del.icio.us Submit "Desferal" to StumbleUpon Submit "Desferal" to Google Submit "Desferal" to Facebook Submit "Desferal" to Twitter Submit "Desferal" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Vidal VN

Bình luận