Apo-naproxen - Thuốc - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "Thấy bệnh dễ chữa nói dối là khó chữa, dọa người ta sợ để lấy nhiều tiền, đó là tội lừa dối. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

Thuốc

Apo-naproxen

Cho điểm
  • Apo-naproxen
  • Naproxen
  • Apotex
  • NhanTam Pharma
APO-NAPROXEN
Apotex
c/o NhanTam Pharma
Viên nén 125 mg : chai 500 viên
Thành phần
Cho 1 viên 125 mg
Naproxen 125 mg

Cho 1 viên 250 mg
Naproxen 250 mg

Cho 1 viên 375 mg
Naproxen 375 mg

Cho 1 viên 500 mg
Naproxen 500 mg

Cho 1 viên 275 mg
Naproxen sodium 275 mg

Cho 1 viên 550 mg
Naproxen sodium 550 mg
Dược lực
Apo-Naproxen đã được chứng minh có tính kháng viêm giảm đau và hạ sốt trên hệ thống thử nghiệm thú vật cổ điển. Trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, hoạt tính kháng viêm được biểu hiện qua sự giảm sưng, đau và chứng tê cứng mỗi buổi sáng, và làm tăng lực bóp của nắm tay và tính linh động. Thuốc biểu hiện tác động kháng viêm ngay cả trên thú vật bị cắt bỏ tuyến thượng thận và do đó, tác động của thuốc không qua trung gian trục tuyến yên - thượng thận. Đây không là một chất corticosteroid.
Trong quá trình thử nghiệm lâm sàng, naproxen được tìm thấu hầu như ít gây xuất huyết tiêu hóa với các liều lượng thông thường so với acid acetylsalicylic.
Các thử nghiệm trên người đã cho thấy hoạt tính lâm sàng của liều 500 mg naproxen mỗi ngày cũng tương tự như liều 3,6 g acid acetylsalicylic mỗi ngày.
Dược động học
Naproxen được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn qua hệ tiêu hóa. Sau khi uống naproxen, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được từ 2 đến 4 giờ, với tình trạng ổn định thông thường đạt được sau 4-5 liều. Thời gian bán hủy sinh học trung bình của anion ở người là vào khoảng 3 giờ, và với nồng độ điều trị có hơn 99% gắn kết với albumin. Khoảng 95% liều dùng được đào thải qua nước tiểu, chủ yếu dưới dạng naproxen, 6-O-desmethyl naproxen hay chất liên hợp của chúng. Tốc độ đào thải đã được tìm thấy có sự trùng hợp chặt chẽ với tốc độ biến mất của thuốc trong huyết tương. Thuốc không gây cảm ứng các men chuyển hóa.
Các nghiên cứu sinh khả dụng đã được thực hiện trên những người tình nguyện. Đây là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá chất lượng thuốc. Đối với các thuốc hóa dược (generic drug), sinh khả dụng là một điều kiện bắt buộc của Bộ Y Tế và chính phủ Canada trong quy trình sản xuất dược phẩm, được quy định hết sức chặt chẽ trước khi các dược phẩm này được lưu hành khắp nước Canada và toàn cầu. Các dược phẩm của Apotex sản xuất tại Canada, đều đạt tiêu chuẩn GMP của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. Các thông số sinh khả dụng của các thuốc hóa dược do Apotex sản xuất được so sánh với các thuốc có nhãn hiệu được ưa chuộng cùng loại của các hãng dược phẩm hàng đầu trên thế giới : Người ta đo và so sánh tốc độ và mức độ hấp thu của một liều uống duy nhất 500 mg thuốc Naprosyn 250 mg và viên nén Apo-Naproxen 250 mg. Kết quả có thể được tóm tắt như sau:
* Phần trăm khác biệt được tính toán trên máy vi tính trước khi làm tròn số trung bình.
Naprosyn Apo-Naproxen % sai biệt
ACU 0-32 (mcg.giờ/ml) 931,0 912,6 - 2,0
Cmax (mcg/ml) 73,4 73,8 + 0,5
Tmax (giờ) 2,1 2,1 - 2,9*
t½ (giờ) 14,3 14,2 - 0,7
Kết luận : Sinh khả dụng của Apo-Naproxen và Naprosyn đã được đánh giá bằng cách so sánh vận tốc và mức độ hấp thu thuốc. Theo những số liệu của nghiên cứu này, có thể kết luận rằng Apo-Naproxen và Naprosyn là tương đương nhau về mặt sinh học và do đó, tương đương với nhau trên lâm sàng.
Một nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù tổng nồng độ trong huyết tương của naproxen không thay đổi, phần không gắn kết với huyết tương gia tăng ở người già.
Chỉ định
Apo-Naproxen (naproxen) được chỉ định điều trị viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp, và viêm dính đốt sống.
Chống chỉ định
Apo-Naproxen (naproxen) chống chỉ định ở bệnh nhân loét dạ dày hoạt động hay bệnh viêm tiến triển của hệ tiêu hóa.
Apo-Naproxen cũng chống chỉ định ở bệnh nhân đã biết hay nghi ngờ có quá mẫn với thuốc. Không nên dùng naproxen trên bệnh nhân có các cơn suyễn cấp tính, nổi mày đay, viêm mũi hay những biểu hiện dị ứng khác được thúc đẩy do ASA hay các tác nhân kháng viêm non-steroid khác. Các phản ứng dạng phản vệ gây tử vong đã xảy ra trên những bệnh nhân này.
Chú ý đề phòng
Loét dạ dày, thủng và xuất huyết tiêu hóa, đôi khi trầm trọng và thỉnh thoảng gây tử vong đã được báo cáo xảy ra trong quá trình trị liệu với các thuốc kháng viêm không steroid trong đó có naproxen.
Nên dùng Apo-Naproxen (naproxen) với sự theo dõi cẩn thận của thầy thuốc ở bệnh nhân dễ kích ứng đường tiêu hóa đặc biệt là những người có tiền sử loét dạ dày, có túi thừa hay các bệnh viêm khác của đường tiêu hóa. Trong những trường hợp này, bác sĩ nên cân nhắc giữa lợi ích điều trị và các nguy cơ có thể xảy ra.
Bệnh nhân dùng bất kỳ thuốc kháng viêm không steroid nào trong đó có thuốc này nên được hướng dẫn đi khám bác sĩ ngay lập tức nếu có triệu chứng hay dấu hiệu của chứng loét dạ dày hay xuất huyết tiêu hóa. Các phản ứng này có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong quá trình trị liệu mà không có triệu chứng hoặc dấu hiệu báo trước.
Bệnh nhân lớn tuổi, ốm yếu và suy nhược dường như có nguy cơ bị những tác dụng phụ khác nhau do các thuốc kháng viêm không steroid cao hơn. Đối với những bệnh nhân này, nên xem xét dùng liều khởi đầu thấp hơn bình thường, điều chỉnh liều tùy theo từng người khi cần thiết và phải theo dõi cẩn thận (xem phần Thận trọng lúc dùng).
Thận trọng lúc dùng
Không nên dùng Apo-Naproxen (naproxen) đồng thời với bất kỳ thuốc nào chứa naproxen sodium, do cả hai đều tuần hoàn trong máu dưới dạng anion naproxen.
Sử dụng trên người già : Một nghiên cứu đã cho thấy rằng mặc dù tổng nồng độ trong huyết tương của naproxen không thay đổi, phần không kết gắn với huyết tương gia tăng ở người già. Không biết được ảnh hưởng của sự kiện này lên liều lượng naproxen dành cho người già nhưng cũng nên cẩn thận khi dùng liều cao. Cũng giống như những thuốc khác dùng cho người lớn tuổi, nên thận trọng dùng liều thấp nhất có hiệu lực.
Hệ tiêu hóa : Nếu nghi ngờ hay chắc chắn là có loét dạ dày, hay nếu có xuất huyết tiêu hóa hay thủng, nên ngưng Apo-Naproxen và thay thế bằng trị liệu thích hợp cùng với sự theo dõi bệnh nhân thật kỹ.
Không có bằng chứng nhất định rằng sự sử dụng đồng thời thuốc đối kháng trên thụ thể histamine H2 và/hoặc các thuốc kháng acid hoặc là sẽ ngăn ngừa sự xuất hiện tác dụng phụ trên đường tiêu hóa hay cho phép tiếp tục trị liệu naproxen khi và nếu các phản ứng phụ xuất hiện.
Nên dùng Apo-Naproxen dưới sự theo dõi chặt chẽ đối với những bệnh nhân có khả năng bị kích ứng đường tiêu hóa; ở bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày; hay ở bệnh nhân có túi thừa. Chứng xuất huyết tiêu hóa, đôi khi trầm trọng và thỉnh thoảng gây tử vong, chứng loét bao tử đã xảy ra trên những bệnh nhân dùng thuốc kháng viêm không steroid trong đó có naproxen.
Chức năng thận : Cũng như với những kháng viêm không steroid khác, sự sử dụng naproxen lâu dài trên thú vật đưa đến hoại tử nhú thận và những bệnh lý bất thường trên thận. Ở người, đã có những báo cáo xuất hiện chứng viêm thận kẽ cấp với tiểu ra máu, protein niệu, và đôi khi là hội chứng thận hư.
Một dạng độc tính thứ nhì trên thận đã được quan sát thấy trên những bệnh nhân có những bệnh trước đó ở thận đưa đến sự giảm tưới máu hay thể tích máu ở thận, nơi mà prostaglandin có vai trò bổ trợ trong việc duy trì tưới máu thận. Ở những bệnh nhân này sự sử dụng một thuốc kháng viêm không steroid có thể làm giảm hình thành prostaglandin phụ thuộc vào liều lượng và có thể nặng thêm lên khi suy thận mất bù. Bệnh nhân có nguy cơ cao nhất xảy ra hiện tượng này là những người suy thận, giảm thể tích ngoại bào, chế độ ăn cần giới hạn Natri, suy tim, suy gan, những người đang dùng thuốc lợi tiểu và người già. Việc ngưng thuốc kháng viêm không steroid đưa đến sự phục hồi chức năng thận như trước khi điều trị một cách đặc thù.
Apo-Naproxen và chất chuyển hóa của nó được đào thải chủ yếu qua thận, do đó nên dùng thuốc cẩn thận ở bệnh nhân suy thận nặng. Trong những trường hợp này nên dùng liều Apo-Naproxen thấp hơn và theo dõi bệnh nhân cẩn thận.
Trong quá trình điều trị lâu dài, nên kiểm tra chức năng thận định kỳ. Không nên dùng naproxen lâu dài trên bệnh nhân có thanh thải creatinine trung bình dưới 20 ml/phút.
Chức năng gan : Giống như những thuốc kháng viêm không steroid khác, sự gia tăng không rõ ràng một hay nhiều xét nghiệm chức năng gan có thể xảy ra lên đến 15% bệnh nhân. Các bất thường này có thể tiến triển, có thể không thay đổi về cơ bản hay có thể nhất thời khi tiếp tục trị liệu. Bệnh nhân với triệu chứng và/hoặc dấu hiệu cho thấy có suy giảm chức năng gan, hay những người có kết quả xét nghiệm bất thường ở gan nên được đánh giá bằng chứng của sự phát triển phản ứng trầm trọng hơn trên gan trong quá trình điều trị thuốc này. Các phản ứng trên gan bao gồm vàng da và những trường hợp viêm gam gây tử vong đã được báo cáo xảy ra với thuốc này và các thuốc kháng viêm không steroid khác. Mặc dù những phản ứng trên hiếm gặp, trong trường hợp các kết quả xét nghiệm bất thường trên gan kéo dài hay trở nên càng ngày càng xấu đi, nếu các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng nhất quán với sự phát triển của bệnh gan, hay nếu xảy ra các biểu hiện toàn thân (như tăng bạch cầu ưa eosine, nổi ban, vv.) nên ngưng thuốc.
Trong quá trình điều trị lâu dài, nên thực hiện các xét nghiệm chức năng gan định kỳ. Nếu phải dùng thuốc này khi có suy gan, phải theo dõi thật kỹ càng.
Bệnh gan mạn tính do rượu và có thể là các dạng xơ gan khác cũng làm giảm nồng độ toàn phần trong huyết tương của naproxen, tuy nhiên nồng độ huyết tương của naproxen không liên kết gia tăng. Nên cẩn thận khi dùng liều cao và có thể cần phải điều chỉnh liều lượng trên những bệnh nhân này. Nên dùng liều thấp nhất có tính hữu hiệu.
Cân bằng nước và chất điện giải : Ứ nước và phù nề đẽ được quan sát thấy trên bệnh nhân được điều trị với naproxen. Do đó, cũng giống như đối với những thuốc kháng viêm không steroid khác, nên lưu ý đến khả năng làm tăng suy tim sung huyết ở người già hay những bệnh nhân suy tim. Nên dùng cẩn thận Apo-Naproxen trên bệnh nhân suy tim, cao huyết áp hay những tình trạng có thể dẫn đến khả năng ứ nước.
Nên kiểm tra chất điện giải trong huyết thanh định kỳ trong quá trình điều trị kéo dài, đặc biệt trên những bệnh nhân có nguy cơ.
Huyết học : Các thuốc ức chế sinh tổng hợp prostaglandin có ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu trên một vài mức độ ; do đó, nên cẩn thận theo dõi khi dùng Apo-Naproxen trên những bệnh nhân có thể xảy ra tác dụng phụ bởi những tác động này.
Loạn tạo máu xảy ra khi sử dụng các thuốc kháng viêm không steroid thì hiếm gặp nhưng có thể xuất hiện với các hậu quả trầm trọng.
Bệnh nhân trị liệu lâu dài có giá trị hemoglobin khởi đầu là 10 g hay thấp hơn nên kiểm tra giá trị này thường xuyên.
Nhiễm trùng : Giống như những thuốc kháng viêm không steroid khác, naproxen có thể che dấu các dấu hiệu nhiễm trùng thông thường và bác sĩ nên cảnh giác khả năng phát triển nhiễm trùng trên bệnh nhân sử dụng Apo-Naproxen.
Nhãn khoa : Nhìn mờ và/hoặc thị lực giảm đã được báo cáo có xuất hiện khi sử dụng naproxen và các thuốc kháng viêm không steroid khác. Nếu có những triệu chứng này, nên ngưng thuốc và khám mắt ; nên khám mắt định kỳ ở những bệnh nhân dùng thuốc này trong một thời gian dài.
Hệ thần kinh trung ương : Bệnh nhân có những hoạt động cần sự chú ý cảnh giác nên cẩn thận khi có những dấu hiệu choáng váng, buồn ngủ, chóng mặt hay trầm cảm trong quá trình trị liệu với thuốc.
Phản ứng nhạy cảm : Các phản ứng dạng phản vệ xảy ra với naproxen hay naproxen sodium, mặc dù đúng là dạng dị ứng hay loại đặc ứng dược lý (như hội chứng aspirin), thường nhưng không phải là luôn luôn xuất hiện trên bệnh nhân đã biết có tiền sử về những phản ứng này. Do đó, nên hỏi trước bệnh nhân về các phản ứng như hen suyễn, polyp mũi, mày đay, và tụt huyết áp khi dùng các thuốc kháng viêm không steroid trước khi điều trị.
Thêm vào đó, nếu những triệu chứng trên xuất hiện trong quá trình trị liệu, nên ngưng thuốc.
Sử dụng trên trẻ em : Không nên dùng Apo-Naproxen ở trẻ dưới 16 tuổi do chưa xác định được tính an toàn và phác đồ liều lượng dùng cho nhóm tuổi này.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Chưa xác định được tính an toàn của thuốc trên phụ nữ có thai và cho con bú và do đó, không nên sử dụng thuốc trong những giai đoạn này. Các nghiên cứu về sinh sản đã được thực hiện trên chuột cống, thỏ và chuột nhắt. Ở chuột cống, thai kỳ bị kéo dài khi naproxen được cho trước khi chuyển dạ, và quá trình chuyển dạ bị hoãn lại khi dùng thuốc sau khi tiến trình sinh nở bắt đầu. Các kết quả tương tự đã được tìm thấy với những thuốc kháng viêm không steroid khác, và các bằng chứng đề ra rằng điều này có thể là do sự co tử cung giảm do sự ức chế tổng hợp prostagladin. Do tác dụng đã biết của các thuốc thuộc nhóm này trên hệ tim mạch của thai người (đóng ống động mạch) nên tránh sự sử dụng thuốc cuối thai kỳ.
Naproxen dễ dàng đi qua hàng rào nhau thai. Thuốc cũng được tìm thấy trong sữa của những bà mẹ cho con bú với nồng độ khoảng 1% nồng độ tìm thấy trong huyết tương.
Tương tác thuốc
Anion naproxen có thể đẩy các thuốc khác ra khỏi vị trí gắn kết trên albumin và có thể dẫn đến tương tác thuốc. Ví dụ, trên bệnh nhân dùng bishydrocoumarin hay warfarin, sự bổ sung Apo-Naproxen vào phác đồ trị liệu có thể làm kéo dài thời gian prothrombin. Bệnh nhân dùng cả hai thuốc nên được theo dõi cẩn thận. Tương tự, bệnh nhân dùng đồng thời Apo-Naproxen với các thuốc hydantoin, sulfonamide hay sulfonylurea nên được theo dõi cẩn thận về những dấu hiệu độc tính với thuốc.
Tác dụng lợi tiểu natri của furosemide đã được báo cáo bị ức chế bởi một số thuốc thuộc nhóm này. Sự ức chế thanh thải lithium ở thận dẫn đến sự gia tăng nồng độ lithium trong huyết thanh cũng đã được báo cáo.
Naproxen và những thuốc kháng viêm không steroid khác có thể làm giảm tác dụng làm hạ huyết áp của propranolol và những thuốc ức chế beta khác.
Tốc độ hấp thu của naproxen bị thay đổi khi dùng đồng thời với các thuốc kháng acid nhưng không gây ảnh hưởng bất lợi khi có thức ăn. Dùng đồng thời với probenecid làm gia tăng nồng độ anion naproxen trong huyết tương và kéo dài đáng kể thời gian bán hủy trong huyết tương.
Nên cẩn thận khi dùng thuốc đồng thời với methotrexate. Naproxen và những thuốc kháng viêm không steroid khác đã được báo cáo làm giảm sự đào thải methotrexate ở ống thận trên thú vật thử nghiệm, do đó có thể làm gia tăng độc tính của thuốc này.
Các xét nghiệm lâm sàng : Naproxen làm giảm sự kết tập tiểu cốậu và kéo dài thời gian chảy máu. Tác động này nên được lưu ý khi xác định thời gian chảy máu. Các xét nghiệm khác ở bệnh nhân dùng naproxen đã cho thấy các bất thường đơn phát nhưng không có khuynh hướng nhất định có thể gây độc tính.
Sự sử dụng Apo-Naproxen (naproxen) có thể dẫn đến sự gia tăng các giá trị steroid 17-keton trong nước tiểu do tương tác giữa thuốc và/hoặc các chất chuyển hóa của nó với m-dinitrobenzen dùng trong xét nghiệm này. Mặc dù các trị số đo được của 17-hydroxycorticoid (xét nghiệm Porter-Silber) không có biểu hiện thay đổi, người ta đề nghị nên ngưng trị liệu naproxen 48 giờ trước khi thực hiện các xét nghiệm chức năng thượng thận.
Thuốc có thể ảnh hưởng một vài xét nghiệm nước tiểu của 5-hydroxy indolacetic acid (5HIAA).
Tác dụng ngoại ý
Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất với các thuốc kháng viêm không steroid là tác dụng trên đường tiêu hóa trong đó chứng loét dạ dày có hay không có chảy máu là tác dụng phụ trầm trọng nhất. Tử vong đã có xuất hiện trên những trường hợp này, đặc biệt là ở người già.
Các phản ứng ngoại ý được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát trên 960 bệnh nhân được điều trị viêm khớp dạng thấp hay viêm xương khớp được nêu dưới đây :
Ghi chú : các dấu
** chỉ tỷ lệ xuất hiện trong khoảng 3-9%
* chỉ tỷ lệ xuất hiện trong khoảng 1-3%
Các phản ứng xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% không có đánh dấu
Hệ tiêu hóa : Ợ nóng**, táo bón**, đau bụng**, buồn nôn**, tiêu chảy**, khó tiêu*, viêm miệng*, viêm túi thừa *, xuất huyết tiêu hóa, nôn ra máu, đại tiện máu đen, loét dạ dày có hay không có xuất huyết và/hoặc thủng ruột, viêm miệng loét.
Hệ thần kinh trung ương : Nhức đầu**, chóng mặt**, buồn ngủ **, choáng váng *, chóng mặt*, trầm cảm* và mệt mỏi*. Đôi khi bệnh nhân phải ngưng dùng thuốc do mức độ trầm trọng của các phản ứng này (nhức đầu, chóng mặt). Các tác dụng phụ khác trên hệ thần kinh trung ương là không thể tập trung tinh thần, khó ở, đau cơ, mất ngủ, giảm hoạt động nhận thức (như giảm sức chú ý, mất trí nhớ tạm thời, gặp khó khăn khi tính toán).
Da liễu : Ngứa ngáy**, bầm máu**, nổi ban da **, đổ mồ hôi*, ban xuất huyết*, rụng tóc, nổi mày đay và ban da, ban đỏ đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử da, viêm da nhạy cảm ánh sáng, viêm da tróc vảy và ban đỏ nốt sần.
Tim mạch : Khó thở**, phù ngoại vi**, đánh trống ngực*, suy tim xung huyết và viêm mạch.
Giác quan : Ù tai**, rối loạn thính lực*, giảm nghe và rối loạn thị giác.
Huyết học : Tăng bạch cầu ưa eosine, giảm bạch cầu hạt, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, mất bạch cầu hạt, thiếu máu bất sản và thiếu máu huyết tán.
Thận : Viêm cầu thận, tiểu ra máu, viêm thận kẽ, hội chứng thận hư, bệnh lý thận và hoại tử ống thận.
Gan : Vàng da, ứ mật, viêm gan, chức năng gan bất thường.
Các tai biến khác : Khát nước*, yếu cơ, phản ứng dạng phản vệ, rối loạn kinh nguyệt, sốt (ớn lạnh và sốt), phù mạch-thần kinh, tăng đường huyết, hạ đường huyết, viêm phổi tế bào ái toan.
Liều lượng và cách dùng
Người lớn : Tổng liều naproxen thông thường đối với bệnh viêm xương khớp, và viêm đính đốt sống là 500 mg một ngày chia làm nhiều lần. Liều này có thể gia tăng từ từ lên đến 1000 mg, hay giảm bớt đi, tùy theo đáp ứng của bệnh nhân.
Không cần thiết sử dụng Apo-Naproxen (naproxen) nhiều hơn hai lần mỗi ngày.
Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy rằng có thể giảm bớt sử dụng hay loại bỏ hoàn toàn các thuốc steroid khác khi dùng naproxen.
Trẻ em : Do thiếu kinh nghiệm lâm sàng, không khuyến cáo dùng thuốc cho trẻ dưới 16 tuổi.
Quá liều
Triệu chứng quá liều đáng kể thường tiêu biểu bằng chứng buồn ngủ, ợ nóng, khó tiêu, buồn nôn hay nôn mửa. Không có bằng chứng về độc tính hay di chứng chậm được báo cáo xảy ra sau 5 đến 15 tháng sau khi uống trong 3 đến 7 ngày liều cao đến 3000 mg naproxen. Một bệnh nhân dùng một liều đơn duy nhất 25 g naproxen và bị buồn nôn và khó tiêu nhẹ. Không biết được rằng liều lượng nào của thuốc có thể đe dọa đến tính mạng.
Nếu bệnh nhân dùng một lượng lớn thuốc do vô ý hay có cố ý, nên rửa ruột và thực hiện những biện pháp thích hợp. Các nghiên cứu trên súc vật đề nghị rằng sự sử dụng ngay lập tức 5 g than hoạt tính sẽ làm giảm đáng kể sự hấp thu của thuốc.
Ở chó, liều 0,5 g/kg than hoạt hữu hiệu trong việc làm hạ nồng độ naproxen trong máu. Thẩm tích máu không làm giảm nồng độ trong huyết tương của naproxen vì có sự gắn kết cao với protein . Tuy nhiên, việc thẩm tích máu vẫn tỏ ra thích hợp trong việc kiểm soát suy thận.
Nguồn: Vidal Việt Nam 2012

Submit "Apo-naproxen" to Digg Submit "Apo-naproxen" to del.icio.us Submit "Apo-naproxen" to StumbleUpon Submit "Apo-naproxen" to Google Submit "Apo-naproxen" to Facebook Submit "Apo-naproxen" to Twitter Submit "Apo-naproxen" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Vidal VN

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook