Peg-intron - Thuốc - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "An ủi lớn nhất của đời người là làm phước. [Trích 14 điều răn của Phật] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

Thuốc

Peg-intron

Cho điểm
  • Peg-intron
  • Peginterferon alpha-2b
  • Schering-Plough
  • Zuellig Pharma
PEG-INTRON
Schering-Plough
c/o Zuellig Pharma
Bột pha tiêm 50 mcg : hộp 1 lọ,
Bột pha tiêm 80 mcg : hộp 1 lọ,
Bột pha tiêm 100 mcg : hộp 1 lọ,
Bột pha tiêm 120 mcg : hộp 1 lọ,
Bột pha tiêm 150 mcg : hộp 1 lọ
Thành phần
Cho 1 lọ
Peginterferon alpha-2b 50 mcg

Cho 1 lọ
Peginterferon alpha-2b 80 mcg

Cho 1 lọ
Peginterferon alpha-2b 100 mcg

Cho 1 lọ
Peginterferon alpha-2b 120 mcg

Cho 1 lọ
Peginterferon alpha-2b 150 mcg
Mô tả
Bột Peg-Intron để pha dung dịch tiêm được đóng trong lọ với hàm lượng 50-80-100-120-150 microgram peginterferon alpha-2b, là liên hợp giữa interferon alpha-2b tái tổ hợp với monomethoxy-polyethylen-glycol. Khi đã pha tiêm, mỗi lọ sẽ cung cấp 0,5 mL dung dịch Peg-Intron.
Bột Peg-Intron còn chứa tá dược là dibasic natri phosphat, sucrose và polysorbat 80. Dung môi là nước cất vô khuẩn để tiêm. Mỗi ống dung môi chứa 0,7 ml nước cất.
Dược lực
Peginterferon alpha-2b là chất liên hợp đồng hoá trị của interferon alpha-2b tái tổ hợp với monomethoxy-polyethylen-glycol. Phân tử lượng trung bình của phân tử này là khoảng 31.300 dalton.
Interferon alpha-2b tái tổ hợp với một clôn của E.coli có chứa chấp một hybrid plasmid có gien chứa đựng một gien interferon alpha-2b từ bạch cầu của người.
Được đánh giá qua thử nghiệm liều tăng dần ở người khỏe mạnh bằng cách nhận xét sự thay đổi nhiệt độ ở miệng, các nồng độ của protein tác động, neopterin/ huyết thanh và 2'-5' - oligoadenylat synthetase (2' 5' - OAS), số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính. Người dùng Peg-Intron có thấy tăng thân nhiệt với liều thấp. Liều đơn Peg-Intron giữa 0,25-2,0 microgram/kg/tuần thấy nồng độ neopterin/ huyết thanh tăng theo liều. Sự giảm bạch cầu đa nhân ở cuối tuần thứ 4 phù hợp với liều của thuốc.
Dược lý lâm sàng
Hiệu lực lâm sàng:
Các kết quả thử rộng rãi đa trung tâm, ngẫu nhiên, thử nghiệm lâm sàng pha III đã chứng minh tính hiệu lực và độ an toàn của Peg-Intron trong điều trị viêm gan C mạn tính. Mục tiêu của thử nghiệm này trên 1219 bệnh nhân là để đánh giá hiệu lực và độ an toàn điều trị kéo dài 48 tuần với 3 liều Peg-Intron (0,5-1,0-1,5 microgram.kg, mỗi tuần tiêm dưới da một lần) so với Intron A 3 triệu đơn vị, tiêm dưới da mỗi tuần 3 lần. Bệnh nhân thích hợp cho các thử nghiệm này là người bị viêm gan C mạn tính được xác định bởi thử nghiệm phản ứng dương tính với chuỗi HCV-RNA, polymerase (PCR) (>100 copies/mL), sinh thiết gan phù hợp với chẩn đoán mô học bệnh gan mạn tính mà không có nguyên nhân nào khác về viêm gan mạn, đồng thời có ALT/ huyết thanh bất thường. Những biện pháp chủ yếu về hiệu lực của thuốc trong thử nghiệm lâm sàng, là hết HCV-RNA (<100 copies/ml) (virus) và ALT trở về bình thường (hoá sinh) 6 tháng sau khi điều trị kéo dài 1 năm. Qua đánh giá virus học, mọi liều của Peg-Intron trong thử nghiệm lâm sàng đều lớn hơn có ý nghĩa so với Intron A (Bảng 1).
Bảng 1: Tỷ lệ % bệnh nhân hết HCV
A B C D Giá trị P**
Đáp ứng Peg-Intron* 0,5 g/kg mỗi tuần 1 lần, N=315 Peg-Intron* 1 g/kg mỗi tuần 1 lần, N=297 Peg-Intron* 1,5 g/kg mỗi tuần 1 lần, N=304 Intron A 3 triệu đơn vị mỗi tuần 3 lần, N=303 A so với D; B so với D; C so với
Đáp ứng giữ vững 6 tháng sau điều trị 57 (18%) 73 (25%) 71 (23%) 37 (12%) 0,042 < 0,001 < 0,001
* Đo HCV /huyết thanh bằng phản ứng định lượng chuỗi polymerase với giới hạn tìm thấp hơn 100 copies/mL (Genetics Institute , Culver City, CA)
** Thử nghiệm X2 (khi bình thường)
Chất lượng sống ít bị ảnh hưởng khi dùng liều 0,5 microgram/kg Peg-Intron hơn so với liều 1 microgram/kg mỗi tuần một lần hoặc so với 3 triệu IU của Intron-A mỗi tuần 3 lần
.
An toàn lâm sàng:
Những đặc tính an toàn của Peg-Intron phù hợp với những đặc tính đã xác định với Intron A. Nói chung tỷ lệ và độ nghiêm trọng của những tác dụng có hại là tương đương giữa người dùng Peg-Intron 0,5 microgram/kg với người dùng Intron A 3 triệu đơn vị, mỗi tuần 3 lần. Cả hai chế độ điều trị đều ít tác dụng ngoại ý hơn khi dùng Peg-Intron với liều 1,0 và 1,5 microgram/kg.
Tỷ lệ và độ nghiêm trọng ở các nhóm dùng 2 liều cao Peg-Intron đều tương đương như nhau. Phần lớn các tác dụng có hại là từ nhẹ đến trung bình và không cần hạn chế điều trị. Độc tính tổng hợp cũng hạn chế, nếu kéo dài 6 tháng điều trị tới 1 năm. Trong phần lớn các trường hợp này, các sự thay đổi điều trị được bổ sung và bệnh nhân có khả năng hoàn thành đầy đủ liệu trình.
Tác dụng
Nghiên cứu in vitro và vivo cho thấy hoạt tính sinh học của peginterferon alpha-2b là do ở phần interferon alpha-2b.
Các interferon tác động lên tế bào nhờ gắn vào các thụ thể đặc hiệu ở màng trên bề mặt tế bào. Nghiên cứu với các interferon khác đã chứng tỏ có tính đặc hiệu về loài. Tuy nhiên, ở một số loài khỉ, như khỉ Rhesus, cũng nhạy cảm với kích thích dược lực học khi tiếp xúc với interferon của người tuýp I.
Khi đã gắn vào màng tế bào, interferon sẽ khởi động một chuỗi phức hợp các hiện tượng nội bào, gây cảm ứng một số enzym. Có thể quá trình này ít nhất một phần chịu trách nhiệm về các đáp ứng khác nhau của tế bào với interferon, bao gồm sự ức chế phân đôi của virus trong các tế bào nhiễm virus, ngăn chặn sự tăng sinh tế bào, các hoạt tính điều biến miễn dịch này làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào và làm tăng độc tính tế bào đặc hiệu của tế bào đối với tế bào đích. Mỗi một hoặc tất cả các đặc tính trên tạo nên tác dụng điều trị của interferon. Intron A (interferon alpha-2b) còn ức chế sự phân đôi của virus in vitro và in vivo. Mặc dầu cơ chế tác dụng chính xác kháng virus của Intron A còn chưa rõ, nhưng cũng thấy có huỷ hoại sự chuyển hoá của tế bào vật chủ. Tác dụng ức chế sự nhân đôi của virus hoặc nếu có nhân đôi, thì các virion tổ tiên cũng không vào được trong tế bào vật chủ.
Dược động học
Peginterferon alpha-2b là dẫn xuất của interferon alpha-2b cải tiến (pegylat) với polyethylen-glycol có tính đặc trưng cao và gồm ưu tiên các loài monopegylat. Thời gian bán thải trong huyết tương của Peginterferon alpha-2b kéo dài hơn so với T½ của interferon alpha-2b có hiệu lực khử pegylat để cho trở lại interferon alpha-2b tự do. Hoạt tính sinh học của các chất đồng phân pegylat là tương đương về chất lượng, nhưng hoạt tính yếu hơn so với interferon alpha-2b tự do.
Sau khi tiêm dưới da, thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết thanh là 15-44 giờ và giữ vững tới 48-72 giờ sau khi tiêm.
Cmax và AUC của Peginterferon alpha-2b tăng phụ thuộc liều lượng, thể tích phân phối (Vd) trung bình là 0,99 lít/kg.
Nếu dùng nhiều lần liên tiếp, sẽ có tích luỹ các interferon có phản ứng miễn dịch. Vì vậy, chỉ thấy tăng vừa phải hoạt tính sinh học khi thử nghiệm sinh học. Thời gian bán thải trung bình của Peginterferon alpha-2b khoảng 40 giờ, độ thanh lọc là 22,0 mL/giờ/kg. Chưa được rõ đầy đủ về cơ chế tham gia vào sự thanh lọc của interferon ở người. Tuy nhiên, sự đào thải qua thận có thể chỉ tham gia phần nhỏ (khoảng 30%) vào sự thanh lọc của Peginterferon alpha-2b.
Chức năng thận: Độ thanh lọc qua thận vào khoảng 30% độ thanh lọc toàn phần của Peginterferon alpha-2b. Với liều duy nhất (1,0 microgram/kg) ở bệnh nhân suy thận, thấy Cmax, AUC và thời gian bán thải tăng tỷ lệ thuận với độ nặng của suy thận.
Dựa theo những dữ liệu trên, không có thay đổi liều lượng dựa theo độ thanh lọc creatinin. Tuy nhiên, vì có thay đổi rõ ràng giữa các cá thể về động học của interferon, nên cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân khi dùng Peg-Intron (xem Liều lượng và Cách dùng).
Chức năng gan: Chưa đánh giá được động học chuyên biệt ở lứa tuổi này. Peg-Intron chỉ dùng điều trị viêm gan C ở lứa tuổi bằng hoặc quá 18 tuổi.
Các yếu tố trung hoà interferon: Thử nghiệm về yếu tố trung hoà interferon được tiến hành trên tập hợp huyết thanh của bệnh nhân đã dùng Peg-Intron trong thử nghiệm lâm sàng.
Các yếu tố trung hoà interferon là các kháng thể có khả năng trung hoà hiệu lực chống virus của interferon. Tỷ lệ lâm sàng của những yếu tố trung hoà ở bệnh nhân dùng Peg-Intron 0,5 microgram/kg là 1,1%.
An toàn tiền lâm sàng
Những hiện tượng có hại không gặp trong thử nghiệm lâm sàng thì cũng không gặp khi nghiên cứu độc tính trên khỉ. Những nghiên cứu này chỉ kéo dài 4 tuần, vì có thấy xuất hiện kháng thể kháng interferon ở nhiều khỉ.
Chưa tiến hành nghiên cứu Peg-Intron (peginterferon alpha-2b) trên sự sinh sản. Intron A chứng tỏ có gây sẩy thai ở động vật có vú, Peg-Intron cũng gây độc tính này. Chưa xác định được tác dụng trên sự thụ tinh. Peg-Intron không độc với gien.
Nghiên cứu tiền lâm sàng về độc tính cấp và bán cấp trên khỉ và loài gặm nhắm đã chứng tỏ in vivo tính không gây độc tương đối của monomethoxy-polyethylen-glycol (mPEG) được giải phóng chuyển hoá peginterferon alpha-2b. Nghiên cứu chuẩn về sự phát triển phôi thai và thử nghiệm in vitro về biến dị cũng cho thấy mPEG không có độc tính.
Chỉ định
Peg-Intron dùng điều trị viêm gan C mạn tính. Bệnh nhân phải từ 18 tuổi trở lên và có bệnh gan còn bù.
Cách điều trị tối ưu bệnh viêm gan C mạn là phối hợp interferon alpha-2b với ribavirin.
Chống chỉ định
- Quá mẫn cảm với hoạt chất và với các thành phần của chế phẩm.
- Quá mẫn cảm với mọi interferon.
- Viêm gan tự miễn hoặc có tiền sử bệnh tự miễn.
- Bệnh tâm thần nghiêm trọng hoặc có tiền sử rối loạn tâm thần nghiêm trọng.
- Bất thường về tuyến giáp, chức năng giáp trạng không giữ được ở mức bình thường khi dùng thuốc.
- Bệnh gan mất bù.
Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng
Với bệnh nhân bị mệt, buồn ngủ hoặc lú lẫn khi dùng Peg-Intron cần phải thận trọng khi lái xe và vận hành máy.
Tim mạch: Cũng như với interferon alpha-2b, cần theo dõi cẩn thận khi dùng Peg-Intron cho bệnh nhân có tiền sử bệnh tim sung huyết, nhồi máu cơ tim, và/hoặc đang hoặc đã có rối loại nhịp tim. Bệnh nhân đã có bất thường về tim cần làm điện tâm đồ trước và trong quá trình dùng thuốc. Loạn nhịp tim (chủ yếu trên tâm thất) thường đáp ứng với điều trị quy ước, nhưng có thể phải ngừng dùng Peg-Intron.
Quá mẫn cảm cấp tính:
Những phản ứng quá mẫn với interferon alpha-2b (như mề đay, phù mạc, co phế quản, phản vệ) hiếm gặp khi điều trị bằng interferon alpha-2b. Nếu gặp phản ứng như vậy với Peg-Intron, phải ngừng thuốc và có ngay biên pháp điều trị thích hợp. Phát ban thoáng qua thì không phải ngừng thuốc.
Chức năng gan: Ngừng Peg-Intron ở bệnh nhân có dấu hiệu suy gan mất bù.
Sốt: Khi sốt kèm theo hội chứng bệnh huyết thanh, thường gặp khi dùng interferon, cần phải loại trừ các nguyên nhân khác của sốt dai dẳng.
Thay đổi thị giác: Rối loạn thị giác, bao gồm chảy máu võng mạc, đốm ở mắt, tắc nghẽn tĩnh mạch và động mạch võng mạc hiếm xảy ra sau khi dùng alpha-interferon. Bệnh nhân nào mà phàn nàn về độ sáng của mắt và giảm thị trường thì phải được khám nhãn khoa. Vì các hiện tượng về thị giác có thể xảy ra cùng các trạng thái bệnh khác, cần kiểm tra thị giác trước khi khởi đầu dùng Peg-Intron ở bệnh nhân tiểu đường hoặc tăng huyết áp.
Hệ thần kinh - tâm thần: Hiếm gặp khi dùng Peg-Intron: trầm cảm, ý tưởng tự vẫn và cố ý tự vẫn. Các tác dụng khác, biểu hiện bằng lú lẫn và các trạng thái tâm thần khác có thể gặp khi dùng alpha-interferon. Nếu bệnh nhân có gặp các vấn đề về tâm thần và thần kinh trung ương, bao gồm trầm cảm lâm sàng thì cần chăm sóc cẩn thận do tính nghiêm trọng của tác dụng ngoại ý này. Nếu triệu chứng còn tồn tại hoặc xấu đi, cần ngừng dùng Peg-Intron.
Các thay đổi khác:
Do có gặp các cơn kịch phát của bệnh vảy nến khi dùng interferon alpha-2b, chỉ khuyến cáo dùng Peg-Intron ở người bệnh vảy nến khi lợi ích điều trị vượt hẳn nguy cơ.
Thử nghiệm trong labô: Với mọi bệnh nhân, trước và có định kỳ trong quá trình dùng Peg-Intron, cần tiến hành các thử nghiệm huyết học chuẩn, hoá sinh và chức năng giáp trạng. Những giá trị cơ bản chấp nhận được để làm chuẩn là: Tiểu cầu khoảng 100.000/mm3, bạch cầu trung tính khoảng 1.500/mm3, hormon kích thích giáp trạng (TSH) cần có mức trong giới hạn bình thường.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Vì chưa có dữ liệu sử dụng Peg-Intron ở người mang thai, nên không dùng thuốc này khi mang thai.
Chỉ dùng Peg-Intron ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, khi đã có biện pháp ngừa thai hữu hiệu trong thời kỳ dùng thuốc.
Chưa rõ các thành phần của thuốc có bài tiết qua sữa hay không. Vì vậy, cần quyết định hoặc mẹ ngừng thuốc, hoặc ngừng cho con bú, có cân nhắc đến tầm quan trọng của điều trị cho người mẹ.
Tương tác thuốc
Kết quả nghiên cứu về tương tác dược động học cho thấy với liều duy nhất thì Peg-Intron không có ảnh hưởng đến hoạt tính của cytochrom P450 (CYP) 1A2, CYP2C8/9, CYP2D6, CYP3A4 hoặc N-acetyl-transferase ở gan. Hơn nữa, Peg-Intron không có tác dụng trên độ thanh lọc của thận qua xét nghiệm creatinin/ huyết thanh sau 6 tháng điều trị. Vì vậy, Peg-Intron không có ảnh hưởng tới các cơ chế chuyển hoá và thanh lọc qua thận khi phối hợp với các thuốc khác. Cũng không thấy tương tác dược động học giữa Peg-Intron với ribavirin khi nghiên cứu dược động học với nhiều liều dùng.
Tác dụng ngoại ý
Phần lớn các tác dụng ngoại ý là nhẹ hoặc trung bình và không cần hạn chế điều trị. Nhiều bệnh nhân thấy nhức đầu và đau cơ.
Những tác dụng có hại chung nhất (khoảng 10% số bệnh nhân) gồm viêm ở nơi tiêm, mệt mỏi, rét run, sốt, trầm cảm, đau khớp, buồn nôn, rụng tóc, đau cơ xương, kích thích, triệu chứng giống bệnh huyết thanh, mất ngủ, tiêu chảy, đau bụng, viêm họng, sụt cân, chán ăn, lo âu, thiếu tập trung tư tưởng, chóng mặt, phản ứng ở nơi tiêm.
Những tác dụng có hại cũng hay gặp (khoảng 2% số bệnh nhân) gồm ngứa, da khô, khó ở, tăng tiết mồ hôi, đau &FRAC14; trên bên phải, giảm bạch cầu trung tính, phát ban, nôn, khô miệng, dễ xúc cảm, kích động, khó thở, nhiễm virus, buồn ngủ, rối loạn giáp trạng, đau ngực, khó tiêu, đỏ mặt, dị cảm, ho, viêm xoang, tăng trương lực cơ, tăng cảm giác, nhìn mờ, lú lẫn, ợ hơi, giảm dục năng, ban đỏ, đau mắt, vô cảm, giảm cảm giác. Phân mềm, viêm kết mạc, mũi xung huyết, táo bón, chóng mặt, rong kinh, rối loạn kinh nguyệt. Khi dùng Peg-Intron, hiếm gặp ý tưởng tự vẫn và cố tình tự vẫn.
Giảm bạch cầu hạt (< 0,75 x 109/lít) gặp ở 4% và 7%, giảm tiểu cầu (< 70 x 109/lít) gặp ở 1% và 3% theo thứ tự ở người dùng 0,5 hoặc 1,0 microgram/kg thể trọng thuốc Peg-Intron.
Liều lượng và cách dùng
Peg-Intron đơn trị liệu, dùng tiêm dưới da 0,5 hoặc 1,0 microgram/kg, mỗi tuần 1 lần, kéo dài ít nhất 6 tháng. Cần chọn liều, dựa theo phỏng đoán về hiệu lực và độ an toàn. Ở bệnh nhân đã thấy mất HCV-RNA sau 6 tháng điều trị, cần bổ sung thêm 6 tháng điều trị nữa, hoặc là 1 năm.
Nếu để bệnh nhân tự tiêm, cần dặn dò thay đổi vị trí tiêm luôn luôn.
Nếu bệnh nhân không mất HCV-RNA sau 6 tháng điều trị, thì cần ngừng dùng Peg-Intron.
Khi gặp một phản ứng có hại trong quá trình điều trị, cần thay đổi liều, dùng &FRAC12; liều đã khuyến cáo, mỗi tuần tiêm một lần, cho tới khi hiện tượng có hại dịu bớt đi. Nếu sự không dung nạp vẫn tồn tại hoặc tái diễn, mặc dầu đã điều chỉnh liều cho thích hợp, thì nên ngừng thuốc.
Cũng cần giảm liều, nếu số lượng bạch cầu trung tính < 0,75 x 109 /lít, hoặc tiểu cầu < 50.000 x 109/lít. Phải ngừng thuốc, nếu bạch cầu trung tính < 0,50 x 109 /lít hoặc tiểu cầu < 25.000 x 109 /lít.
Khi suy thận: Độ thanh lọc của Peg-Intron giảm đi ở người suy thận rõ (độ thanh lọc creatinin ≤ 50 mL/phút) (xem Dược động học). Cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân suy chức năng thận rõ rệt và cần giảm liều hàng tuần của Peg-Intron, nếu điều trị cho phép.
Khi suy gan: Chưa đánh giá được hiệu lực và độ an toàn của Peg-Intron ở người suy gan nghiêm trọng, vì vậy không được dùng thuốc này cho các đối tượng trên.
Người cao tuổi (≥ 65 tuổi): Không có ảnh hưởng của tuổi tác tới động học của Peg-Intron. Dữ liệu từ người cao tuổi dùng liều duy nhất Peg-Intron cho thấy không cần thay đổi liều Peg-Intron dựa theo tuổi (xem Dược động học).
Bệnh nhân dưới 18 tuổi: Không dùng Peg-Intron cho lứa tuổi này, vì chưa có kinh nghiệm điều trị cho lứa tuổi này.
Pha chế: Không được trộn lẫn Peg-Intron với các thuốc tiêm khác. Peg-Intron được phân phối dạng bột Peginterferon alpha-2b với hàm lượng 50-80-100-120-150 microgram để tiêm một lần. Mỗi lọ bột cần pha với 0,7 ml nước cất vô khuẩn để tiêm; sau khi pha thì tiêm tới 0,5 ml dung dịch. Dung dịch đã pha sẽ có nồng độ là 100-160-200-240-300 microgram/ml.
Cũng như mọi sản phẩm để tiêm, hãy nhận xét bằng mắt dung dịch trước khi tiêm. Không được tiêm, nếu dung dịch đổi màu. Phần tiêm không hết mà còn thừa, phải vứt bỏ.
Dùng ống tiêm và kim tiêm vô khuẩn, cho thêm 0,7 ml nước cất vô khuẩn vào lọ bột Peg-Intron. Lắc nhẹ nhàng đến khi bột thuốc tan hoàn toàn. Rút liều thích hợp khỏi lọ bằng ống tiêm kim tiêm vô khuẩn và tiêm dưới da bệnh nhân.
Độ ổn định của dung dịch đã pha: Độ ổn định về hoá và lý học thông dụng của dung dịch là được 24 giờ, nếu bảo quản ở 2-8°C. Về quan điểm vi sinh học, dung dịch đã pha phải được dùng ngay. Nếu chưa dùng ngay, thì điều kiện và thời gian bảo quản thông dụng là thuộc trách nhiệm của người dùng, nhưng thường là không được để kéo dài quá 24 giờ trong điều kiện nhiệt độ 2-8°C, trừ khi sự pha dung dịch là ở nơi có điều kiện vô khuẩn đáng tin cậy và được kiểm soát chặt chẽ.
Quá liều
Trong thử nghiệm lâm sàng, có gặp các trường hợp quá liều - không quá 2 lần liều thường dùng. Không có những phản ứng nghiêm trọng trong các trường hợp này. Các tác dụng ngoại ý sẽ qua khỏi khi tiếp tục dùng Peg-Intron.
Bảo quản
Bảo quản Peg-Intron ở nhiệt độ 2-8°C (tủ lạnh), nhưng không được để đông lạnh.
Sau khi pha chế, cần dùng ngay dung dịch đã pha hoặc nếu để tủ lạnh 2-8°C thì có thể dùng 24 giờ. Sau khi dùng, phải vứt bỏ phần còn dư thừa. Không dùng Peg-Intron khi bột đổi màu.
Nguồn: Vidal Việt Nam

Submit "Peg-intron" to Digg Submit "Peg-intron" to del.icio.us Submit "Peg-intron" to StumbleUpon Submit "Peg-intron" to Google Submit "Peg-intron" to Facebook Submit "Peg-intron" to Twitter Submit "Peg-intron" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Vidal VN

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook