Pulmicort respules - Thuốc - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "Lại như xét bệnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bệnh, đó là tội dốt nát. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

Thuốc

Pulmicort respules

Rating: 2 votes, 4.50 average.
  • Pulmicort respules
  • Budenoside
  • AstraZeneca
PULMICORT RESPULES
AstraZeneca
Khí dung đơn liều 0,5 mg/2 ml : ống 2 ml, hộp 6 gói x 5 ống
Thành phần
Cho 1 ml hỗn dịch 0,5 mg/2 ml
Budenoside
0,25 mg
Tá dược: Dinatri edetate, natri clorua, polysorbate 80, acid citric, natri citrate, nước cất.
Dược lực
Pulmicort là corticosteroid sử dụng bằng đường hít khí dung trong điều trị và dự phòng hen phế quản.
Các thử nghiệm ở người và động vật cho thấy mối tương quan thuận lợi giữa hoạt tính kháng viêm tại chỗ và tác dụng glucocorticoid toàn thân với biên độ an toàn rộng về liều lượng. Điều này được giải thích là do sự chuyển hóa nhanh chóng của budesonide trong giai đoạn đầu qua gan sau khi được hấp thu vào máu, khoảng 85-90%, thành những chất chuyển hóa có hoạt tính thấp.
Thử nghiệm làm trắng da của các steroids tác động tại chỗ ở người cho thấy hoạt tính kháng viêm của budesonide gấp 2 lần beclomethasone dipropionate, nhưng ít tác dụng toàn thân hơn, qua việc đánh giá tác động trên số lượng bạch cầu (WBC) và giảm nồng độ cortisol trong huyết tương vào buổi sáng. Tương quan thuận lợi giữa hoạt tính kháng viêm tại chỗ và tác động toàn thân của budesonide là do ái lực cao với thụ thể glucocorticoid, cùng với sự chuyển hóa lần đầu qua gan nhanh và thời gian bán hủy ngắn.
Liều 0,8 mg cho thấy làm giảm nồng độ cortisol huyết tương và bài tiết cortisol trong nước tiểu. Một liều hít 3,2 mg budesonide làm giảm nồng độ cortisol huyết tương tương đương với 10 mg prednisolone uống.
Budesonide trung hòa phản ứng phản vệ tại phổi ở chuột lang chủ yếu qua trung gian IgE chứ không phải IgG. Việc điều trị trước với 1 mg budesonide/ngày qua đường hít 1-4 tuần ở bệnh nhân hen có tác dụng ức chế phản ứng tức thời của phế quản đối với tác nhân dị ứng theo phương thức liên hệ thời gian. Phản ứng dị ứng chậm bị ức chế sau một tuần điều trị bằng đường hít.
Việc điều trị trước với budesonide dạng hít 2-4 tuần cũng có tác dụng giảm sự tăng đáp ứng của phế quản không đặc hiệu ở bệnh nhân hen đối với các chất kích thích trực tiếp (histamine, methacholine) và gián tiếp (gắng sức) theo phương thức liên hệ thời gian.
Ở chuột lang, budesonide không làm giãn phế quản qua tác động trên thụ thể bêta và cũng không ảnh hưởng đến tác động giãn cơ trơn đường hô hấp của theophylline. Ở người, khi hít 1,6 mg budesonide 1 lần duy nhất thì có tác dụng giãn phế quản nhẹ. Tác động này đạt tối đa 6 giờ sau khi hít và kéo dài 12 giờ.
Khả năng gây ung thư của budesonide đã được đánh giá ở chuột nhà và chuột cống với liều uống đến 200 và 50 mcg/kg/ngày. Không có tác động gây ung thư được ghi nhận ở chuột nhà. Một nghiên cứu cho thấy có sự tăng tỷ lệ u thần kinh đệm ở não chuột cống đực Sprague-Dawley dùng budesonide, tuy nhiên kết quả chưa rõ ràng. Những nghiên cứu sâu hơn ở chuột cống đực Sprague-Dawley và Fischer cho thấy tỷ lệ u thần kinh đệm thấp và không khác biệt với nhóm glucocorticoid tham khảo hoặc nhóm chứng. Kết luận là việc điều trị bằng budesonide không làm gia tăng tỉ lệ bướu não ở chuột cống.
Ở chuột cống đực, với liều 10, 25 và 50 mcg/kg/ngày, thì những chuột dùng liều 25 và 50 mcg/kg/ngày cho thấy có tăng tỷ lệ u tế bào gan nguyên phát. Điều này cũng được ghi nhận ở cả 3 nhóm steroid (budesonide, prednisolone, triamcinolone acetonide) trong nghiên cứu được lặp lại ở chuột cống đực Sprague-Dawley, chứng tỏ đây là tác động chung của nhóm corticosteroid.
Budesonide không gây đột biến, đã được đánh giá trong 6 thử nghiệm khác nhau.
Dược động học
90% Pulmicort bị bất hoạt khi chuyển hóa lần đầu qua gan tạo ra các chất chuyển hóa có hoạt tính glucocorticosteroid toàn thân thấp hơn 100 lần.
Khoảng 10% liều sử dụng của Pulmicort khí dung định vị ở phổi. Thể tích phân phối của budesonide ở người trưởng thành khoảng 300 L và ở trẻ em là 3,1 tới 4,8 L/kg, điều này cho thấy budesonide có ái lực cao tại mô. Mức độ gắn kết với protein huyết tương là 88,3 ± 1,5% ở người.
Ở người trưởng thành, thời gian bán hủy của budesonide sau khi hít khí dung là 2,0 ± 0,2 giờ và ở trẻ em là 1,5 giờ với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được ngay sau khi dùng thuốc. Chuyển hóa sinh học không đáng kể được quan sát ở phổi người và các chế phẩm huyết thanh.
Ở những người tình nguyện hít budesonide, 31,8 ± 7,5% liều sử dụng xuất hiện trong nước tiểu và 15,1 ± 4,3% ở trong phân (0-96 giờ). Khả năng thanh thải budesonide dạng không đổi trong huyết tương là 84 L/giờ ở người trưởng thành và 1,5 - 2 L/giờ/kg ở trẻ em.
Chỉ định
Điều trị hen phế quản.
Pulmicort có thể được sử dụng khi liệu pháp thay thế hoặc giảm liều steroid đường uống là cần thiết.
Pulmicort Respules: cung cấp budesonide trong hỗn dịch khí dung khi các phương pháp khác của liệu pháp steroid không thích hợp.
Chống chỉ định
Mẫn cảm với budesonide hay bất cứ thành phần nào của chế phẩm.
Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng
- Pulmicort không được chỉ định trong giảm cơn co thắt phế quản tức thời, vì vậy Pulmicort không thích hợp như đơn liệu pháp điều trị cơn hen hay đợt kịch phát hen cấp mà lúc đó cần các biện pháp xử trí tích cực.
- Cần đặc biệt theo dõi những bệnh nhân chuyển từ corticosteroid dạng uống sang Pulmicort trong vài tháng để phục hồi hoàn toàn trục tuyến dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận.
Trong những đợt hen nặng hoặc tress, những bệnh nhân này có thể cần điều trị bổ sung corticosteroid dạng uống và được hướng dẫn mang theo phiếu chứa thông tin thích hợp cần được lưu ý (xem mục Quản lý lâm sàng - Những bệnh nhân phụ thuộc corticosteroid đường uống).
- Bệnh nhân trước đây có sử dụng steroid toàn thân liều cao có thể xuất hiện lại các triệu chứng dị ứng như viêm mũi, chàm khi chuyển từ liệu pháp steroid đường uống sang Pulmicort do tác động toàn thân của budesonide thấp (xem mục Quản lý lâm sàng - Những bệnh nhân phụ thuộc corticosteroid đường uống).
- Liều cao glucocorticosteroid có thể che lấp một số biểu hiện của nhiễm trùng sẵn có và một số nhiễm trùng mới có thể xuất hiện trong thời gian sử dụng. Cần theo dõi đặc biệt ở những bệnh nhân lao phổi thể hoạt động hay yên lặng hoặc bệnh nhân nhiễm trùng hệ hô hấp nguồn gốc nấm, vi khuẩn hay vi rút.
- Khi có sự suy giảm tuyến thượng thận ở bệnh nhân điều trị dài hạn với liều cao, cần kiểm tra chức năng tuyến thượng thận và huyết học.
- Các thuốc dùng qua đường hô hấp không nên sử dụng với hệ thống phân phối dưới áp lực dương ở các bệnh phổi như tràn khí màng phổi, kén khí, tràn khí trung thất trừ khi có hệ thống dẫn lưu đặc biệt.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Lúc có thai:
Lợi ích của việc kiểm soát hen đã được đánh giá là vượt trội hơn so với các tác động ngoại ý có thể xảy ra cho mẹ và thai nhi.
Kết quả từ một nghiên cứu tiền cứu lớn về dịch tễ học và các kinh nghiệm trong quá trình lưu hành thuốc cho thấy dùng budesonide dạng hít trong thời gian mang thai không gây các tác động ngoại ý đối với bào thai và trẻ sơ sinh.
Nên xem xét đến việc dùng các glucocorticoid dạng hít như budesonide vì tác động toàn thân thấp so với các glucocorticoid dùng đường uống ở các liều có đáp ứng tương đương tại phổi.
Lúc nuôi con bú:
Chưa có thông tin về thuốc có qua sữa mẹ hay không. Do liều dùng tương đối thấp khi sử dụng qua đường hít nên nếu thuốc có hiện diện trong sữa thì cũng với một lượng thấp. Nếu lợi ích của việc dùng thuốc cao hơn nguy cơ có thể có thì vẫn có thể xem xét đến việc cho con bú trong thời gian dùng thuốc.
Tương tác thuốc
Ketoconazole:
Budesonide chuyển hoá chủ yếu qua trung gian CYP3A, một phân nhóm của hệ thống men cytochrome P450. Vì thế, các chất ức chế men này như ketoconazole có thể làm tăng nồng độ budesonide toàn thân. Điều này ít có ý nghĩa về mặt lâm sàng khi điều trị ngắn hạn bằng ketoconazole (1-2 tuần), nhưng cũng cần xem xét đến khi dùng ketoconazole lâu dài.
Tác dụng ngoại ý
Pulmicort nói chung được dung nạp tốt. Đa số các phản ứng ngoại ý nhẹ và tại chỗ. Tác động toàn thân và các biến chứng miệng-hầu gây ra bởi budesonide được nhận thấy là phụ thuộc vào liều.
Biểu hiện lâm sàng của việc dùng quá liều steroid xảy ra ở 50% bệnh nhân (n=10) sử dụng hàng ngày 1,6 mg budesonide hoặc nhiều hơn trong thời gian dài.
Một số tác dụng ngoại ý sau đã được ghi nhận:
Thường gặp: (> 1%)
Mũi - họng: khàn giọng; đau, kích thích cổ họng; kích thích lưỡi và miệng; khô miệng; nấm miệng.
Hô hấp: ho.
Ít gặp (< 1%)
Mũi - họng: kích thích thanh quản, vị giác kém.
Hô hấp: co thắt phế quản.
Tiêu hoá: tiêu chảy, buồn nôn.
Tim mạch: phù mạch.
Da và các phần phụ: các phản ứng quá mẫn như phản ứng da (nổi mề đay, ban đỏ, viêm da).
Hệ thần kinh trung ương: nhức đầu, choáng váng, khát, mệt mỏi.
Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng: tăng cân.
Nếu nấm Candida ở miệng hầu phát triển, có thể điều trị với thuốc kháng nấm thích hợp trong khi vẫn tiếp tục sử dụng Pulmicort. Nấm Candida có thể giảm thiểu bằng cách súc miệng sau mỗi lần hít.
Một số hiếm trường hợp thâm tím da cũng đã xảy ra khi điều trị bằng glucocorticoid đường hít.
Các triệu chứng về tâm thần như kích thích, bồn chồn và trầm cảm đã được ghi nhận khi dùng budesonide cũng như các glucocorticosteroid khác.
Pulmicort hiếm khi gây co thắt phế quản ở những bệnh nhân nhạy cảm. Cơn co thắt phế quản có thể được điều trị bằng thuốc cường giao cảm bêta 2 dạng hít.
Liều lượng và cách dùng
Liều lượng:
Nếu tình trạng hen trở nên nặng hơn, có thể tăng liều hàng ngày và/hoặc tổng liều budesonide.
Pulmicort Respules nên được sử dụng với máy khí dung thích hợp. Lượng thuốc được phóng thích vào phổi thay đổi từ 40-60 % liều sử dụng tùy thuộc vào thiết bị khí dung. Thời gian khí dung và lượng thuốc được phóng thích phụ thuộc vào tốc độ dòng khí, thể tích buồng chứa và thể tích thuốc nạp vào. Thể tích thuốc nạp vào thích hợp cho hầu hết máy khí dung là 2-4 ml.
Sự lắng đọng có thể xảy ra khi bảo quản Pulmicort Respules. Nếu sau khi lắc mà thuốc không trở lại dạng hỗn dịch thì nên loại bỏ ống thuốc.
Liều khởi đầu, hoặc trong giai đoạn hen nặng, hoặc trong thời gian giảm liều corticosteroid đường uống:
Người lớn: 1-2 mg x 2 lần/ngày.
Trẻ em: 0,5-1 mg x 2 lần/ngày.
Điều trị duy trì:
Tùy thuộc cá nhân và nên dùng liều thấp nhất làm mất triệu chứng. Liều chỉ định là:
Người lớn: 0,5-1 mg x 2 lần/ngày.
Trẻ em: 0,25-0,5 mg x 2 lần/ngày.
Hướng dẫn bệnh nhân:
- Cần hướng dẫn cho bệnh nhân biết rằng Pulmicort là thuốc dự phòng cần phải sử dụng đều đặn và không được sử dụng như đơn liệu pháp để cắt cơn hen cấp tính.
- Bệnh nhân nên được hướng dẫn sử dụng đúng cách loại dụng cụ khí dung được xem xét là thích hợp cho bệnh lý của họ. Mỗi đơn vị đóng gói Pulmicort đều có bản hướng dẫn sử dụng đầy đủ.
- Những bệnh nhân cần sử dụng thuốc giãn phế quản dạng hít cùng lúc, thì khuyên họ nên dùng thuốc giãn phế quản trước khi dùng Pulmicort để tăng khả năng thâm nhập của thuốc trong cây phế quản. Nên có thời gian nghỉ vài phút giữa 2 lần hít.
Quản lý lâm sàng:
- Bệnh nhân không phụ thuộc corticosteroid đường uống:
Điều trị với Pulmicort ở liều chỉ định cho hiệu quả điều trị trong vòng 10 ngày.
Ở bệnh nhân có xuất tiết đàm quá mức, nên cho liệu trình ngắn khởi đầu (khoảng 2 tuần) bằng corticosteroid đường uống, bắt đầu bằng liều cao sau đó giảm từ từ để bổ sung cho Pulmicort. Việc điều trị phải tiếp tục ít nhất 1 tháng trước khi xác định có sự đáp ứng tối đa với liều được cho của Pulmicort.
- Bệnh nhân phụ thuộc corticosteroid đường uống:
Cần theo dõi đặc biệt ở những bệnh nhân phụ thuộc corticosteroid đường uống chuyển sang Pulmicort do sự bình thường hóa chậm chức năng trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận đã bị rối loạn do việc sử dụng kéo dài corticosteroid đường uống.
Nên bắt đầu điều trị bằng Pulmicort khi bệnh nhân hen đang ở trong tình trạng tương đối ổn định. Một liều cao Pulmicort được sử dụng kèm với liều corticosteroid đường uống đã dùng trước đây trong khoảng 2 tuần. Nên giảm liều corticosteroid đường uống từ từ tới liều thấp nhất có hiệu quả (ví dụ 1mg prednisolone hoặc tương đương mỗi 4 ngày, tuy nhiên mức giảm liều chính xác còn tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân). Không nên thay đổi liều Pulmicort trong thời gian bệnh nhân còn sử dụng corticosteroid đường uống.
Trong nhiều trường hợp, có thể thay thế hoàn toàn corticosteroid đường uống bằng Pulmicort đường hít. Một số trường hợp khác, liều thấp steroid đường uống để duy trì là cần thiết. Một vài bệnh nhân cảm thấy khó chịu khi ngưng corticosteroid đường uống do tác dụng corticosteroid toàn thân giảm. Bác sĩ cần hỗ trợ tích cực cho bệnh nhân và nhấn mạnh lý do điều trị bằng Pulmicort.
Thời gian cần thiết cho việc tái sản xuất đủ corticosteroid tự nhiên thường kéo dài và có thể đến 12 tháng. Những bệnh nhân chuyển sang Pulmicort nên có một phiếu chứa thông tin thích hợp cần được lưu ý chỉ ra rằng họ có thể cần dùng bổ sung corticosteroid toàn thân trong giai đoạn stress như nhiễm trùng nặng, chấn thương hoặc phẫu thuật. Trong những giai đoạn như thế, việc dùng bổ sung corticosteroid đường uống là cần thiết.
Trong khi chuyển từ liệu pháp đường uống sang Pulmicort, tác động steroid toàn thân sẽ giảm. Các triệu chứng dị ứng sớm có thể tái phát (như là viêm mũi, chàm, viêm kết mạc) hoặc bệnh nhân mệt mỏi, nhức đầu, đau cơ khớp, thỉnh thoảng buồn nôn và nôn. Trong những trường hợp như vậy, việc hỗ trợ bằng thuốc là cần thiết.
Hướng dẫn sử dụng Pulmicort Respules:
1. Chuẩn bị máy khí dung để cho thuốc vào.
2. Tách 1 ống Pulmicort Respules khỏi liếp thuốc bằng cách vặn mạnh.
3. Lắc ống thuốc.
4. Xoắn phần đỉnh của ống Respules để mở ống thuốc ra.
5. Bóp thuốc vào bình chứa của máy khí dung.
Không pha loãng thuốc trừ khi có chỉ dẫn của bác sĩ. Trong một số trường hợp, có thể chỉ sử dụng một phần thuốc trong ống Respules là đủ. Bác sĩ hoặc dược sĩ sẽ chỉ dẫn cho bạn.
6. Sử dụng máy khí dung theo hướng dẫn, đảm bảo toàn bộ thuốc trong bình chứa đã được dùng hết.
7. Vệ sinh dụng cụ khí dung sau khi dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Rửa mặt và súc miệng với nước sau khi khí dung.
Sau mỗi lần khí dung, cần lau sạch đầu ngậm hoặc mặt nạ trong nước ấm và để khô.
Máy khí dung và Pulmicort (budesonide) Respules:
Đối với tất cả các thuốc sử dụng qua máy khí dung, điều quan trọng là chất khí dung được tạo ra phải có kích thước và hàm lượng thích hợp để thuốc tác dụng tốt tại phổi. Đối với Pulmicort Respules thì tốt nhất là sử dụng máy phun khí dung nén áp lực với lưu lượng tối thiểu là 6-8 lít/phút.
Máy phun khí dung tạo ra phun mù để hít vào bằng không khí được bơm qua một máy nén điện hoặc oxy nén trong bình chứa.
Nên tham khảo sách hướng dẫn hoặc liên hệ với nhà sản xuất máy khí dung để đảm bảo rằng máy bạn đang dùng thỏa mãn những yêu cầu này.
Cần lưu ý rằng không nên sử dụng máy khí dung siêu âm đối với Pulmicort Respules.
Máy khí dung siêu âm tạo ra tín hiệu tần số cao gây ra sự rung động trong chất lỏng và tạo thành phun mù tiểu hạt có thể hít vào được. Sử dụng loại máy này có thể làm cho việc điều trị với Pulmicort Respules mất hiệu quả.
Tương thích:
Hỗn dịch Pulmicort để khí dung có thể được trộn với nước muối sinh lý 0,9% và với dung dịch terbutaline, salbutamol, natri cromoglycate hoặc ipratropium bromide.
Quá liều
Triệu chứng:
Trong hầu hết trường hợp quá liều không gây ra triệu chứng rõ mà chỉ làm giảm nồng độ cortisol trong huyết tương và tăng số lượng và tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính trong máu. Số lượng và tỷ lệ bạch cầu lympho và ái toan giảm. Quá liều thường xuyên có thể gây cường năng vỏ thượng thận và ức chế trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận.
Điều trị:
Ngưng Pulmicort hoặc giảm liều sẽ làm mất triệu chứng, mặc dù trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận có thể hồi phục chậm.
Bảo quản
Bảo quản ở nhiệt độ 8-30°C, không để trong tủ lạnh.
Nguồn: Vidal Việt Nam

Submit "Pulmicort respules" to Digg Submit "Pulmicort respules" to del.icio.us Submit "Pulmicort respules" to StumbleUpon Submit "Pulmicort respules" to Google Submit "Pulmicort respules" to Facebook Submit "Pulmicort respules" to Twitter Submit "Pulmicort respules" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Vidal VN

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook