Vị thuốc, bài thuốc từ khoai lang.

Được mùa chớ phụ ngô khoai

Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng

Tất cả mọi người dân không chỉ ở Việt Nam mà ở cả châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Âu khoai lang rất gần gũi và thân thiện, là món ăn không lạ từ trẻ em đến người già. Bản thân khoai lang cũng có thể là rau nhưng cũng có thể là bánh, là lương thực.

Khoai lang (danh pháp hai phần: Ipomoea batatas) là một loài cây nông nghiệp với các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, được gọi là củ khoai lang. Khoai lang là một nguồn cung cấp rau, củ ăn quan trọng, được sử dụng trong vai trò của cả rau lẫn lương thực. Các lá non và thân non cũng được sử dụng như một loại rau. Rễ củ ăn được có màu từ trắng, vàng, cam hay tím

Mặc dù lá và thân non cũng ăn được, nhưng các rễ củ nhiều tinh bột mới là sản phẩm chính và quan trọng nhất từ khoai lang. Trong một số quốc gia khu vực nhiệt đới, nó là loại lương thực chủ yếu. Cùng với tinh bột, củ khoai lang cũng chứa nhiều xơ tiêu hóa, vitamin A, vitamin C và vitamin B6. Tất cả các giống đều cho củ có vị ngọt, dù nhiều hay ít. Mặc dù có vị ngọt, nhưng khoai lang trên thực tế là thức ăn tốt cho những người mắc bệnh đái tháo đường do các nghiên cứu sơ bộ trên động vật cho thấy nó hỗ trợ cho sự ổn định nồng độ đường trong máu và làm giảm sức kháng insulin. Năm 1992, người ta đã so sánh giá trị dinh dưỡng của khoai lang với các loại rau khác. Lưu ý tới hàm lượng xơ, các cacbohydrat phức, protein, các vitamin A và C, sắt, canxi thì khoai lang đứng cao nhất về giá trị dinh dưỡng. Theo các tiêu chuẩn này thì khoai lang hơn khoai tây. Các giống khoai lang có lớp thịt màu vàng cam sẫm chứa nhiều vitamin A hơn các giống có thịt màu nhạt. Rau lang xào là món ăn khá phổ biến trong ẩm thực Đài Loan, Việt Nam, thông thường nó được xào với tỏi và dầu ăn và một chút muối ăn ngay trước khi ăn. Rau lang luộc cũng là món ăn phổ biến của người Việt và nó hay được dùng với nước

Tuy vậy trên hết một điều không thể không nói đến đó là khoai lang là một vị thuốc quí.

Theo Đông y, khoai lang có nhiều tên như: cam thử, phiên chử. Củ khoai lang tính bình, vị ngọt, có tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, cường thận, kiện vị, tiêu viêm, thanh can, lợi mật, sáng mắt. Nó được dùng chữa vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, phụ nữ kinh nguyệt không đều (dùng trước kỳ kinh), nam giới di tinh, trẻ em cam tích, lỵ. Lá khoai lang là loại rau dân dã vừa ngon, vừa mát và bổ. Củ và rau khoai lang là vị thuốc phòng chữa bệnh đã được dùng từ lâu trong dân gian, có nơi gọi nó là “sâm nam”. Theo y văn: Rau lang tính bình, vị ngọt, không độc, bổ hư tổn, ích khí lực, kiện tỳ vị, bổ thận âm, dùng chữa tỳ hư, kém ăn, thận âm bất túc. Kiêng kỵ với các trường hợp tiêu chảy, viêm dạ dày đa toan, đường huyết thấp. Các rễ khi được sử dụng làm chất tăng tiết sữa. Lá được dùng để diều trị bệnh đái tháo đường, sổ giun móc, điều trị áp xe và cầm máu. Củ được dùng điều trị hen suyễn.

1. Ăn khoai lang để tăng sức đề kháng

Ở các nước thuộc Bắc bán cầu như nước ta, mùa mắc bệnh cảm cúm nhiều thường bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau tùy theo vùng và quốc gia.

Bệnh cảm cúm chiếm gần 90% nguyên nhân gây sốt và viêm đường hô hấp ở trẻ em. Để tăng sức đề kháng cho trẻ em phòng tránh viêm hô hấp, có nhiều biện pháp gồm tiêm chủng đầy đủ cho trẻ, sử dụng khẩu trang khi đi xe gắn máy, giữ ấm cho trẻ… trong đó chế độ ăn cũng góp phần quan trọng. Khoa học đã chứng minh vitamin và khoáng chất giúp tăng sức đề kháng, đặc biệt là vitamin A và kẽm.

Vitamin A được chứng minh có vai trò tăng miễn dịch chống bệnh nhiễm trùng, có nhiều trong các loại trái cây màu vàng đậm, đặc biệt là ba loại thức ăn phổ biến: khoai lang, cà chua và cà rốt. Trong rau và trái cây, vitamin A có ở dưới dạng beta-caroten là tiền chất và sẽ chuyển sang vitamin khi vào cơ thể. Trong động vật, vitamin nhiều nhất trong các món ăn từ gan, ví dụ gan và patê.

Theo chúng tôi, khoai lang là loại thức ăn tuyệt vời mà tạo hóa ban cho con người vì chứa rất nhiều vitamin, đặc biệt là vitamin A, C và vitamin nhóm B. Về khoáng chất, khoai lang chứa rất nhiều khoáng chất trong đó có kali và manhê; khoai lang cũng chứa rất nhiều chất xơ. Từ đó khoai lang được xếp vào loại thực phẩm có tính kháng viêm rất cao, giúp phòng chống bệnh mãn tính không lây như đái tháo đường, tăng huyết áp. Chưa kể khoai lang lại là thức ăn rẻ và phổ biến ở nước ta.

2. Ăn khoai lang để giảm cân:

Như trên đã nói khoai lang có các đặc điểm sau: Thứ nhất là khoai lang có hàm lượng carbohydrate thấp hơn khoai tây. Một củ khoai tây bình thường chứa 26 g carbohydrate, trong khi một củ khoai lang cùng cỡ chứa 23 g carbohydrate. Thứ hai là hàm lượng chất xơ trong khoai cao: Khoai lang chứa lượng chất xơ cao khoảng gấp đôi so với các loại khoai khác nên rất hữu hiệu trong việc giảm cân, chống táo bón. Cuối cùng khoai lang là nguồn phong phú vitamin A, kali và vitamin C, B6, riboflavin, chất đồng, acid pantothetic và acid folic. Một củ khoai lang vừa chứa lượng kali nhiều hơn 28% so với một trái chuối.

Lượng nước cao trong khoai lang giúp ta giảm cân. Giống như chất xơ, nước chiếm phần lớn trong dạ dày. Vì vậy, ăn các loại thực phẩm chứa nhiều nước giúp cảm thấy no và ngăn ngừa ăn quá nhiều cũng như ăn vặt giữa các bữa ăn.

Để phòng chống béo phì, có thể ăn củ và rau lang luộc. Áp dụng chế độ nửa gạo, nửa khoai riêng rẽ, hoặc độn chung với nhau nấu thành cơm, cháo, bánh..

3. Các bài thuốc từ khoai lang trong dân gian.

– Chữa cảm sốt mùa nóng: Thời tiết nóng dễ gây sốt vì cảm, không ra được mồ hôi. Với người sức khỏe tốt, có thể nấu khoai lang trắng với cải bẹ xanh ăn thay cơm để giúp ra mồ hôi, hạ sốt, giải cảm. Có thể dùng các bài thuốc:

+ Khoai lang trắng khô một nắm, nghệ một củ, giấm 1/2 chén con, sắc uống nóng.

+ Khoai lang trắng khô 16g, gừng 16g, sắc uống hoặc nấu cháo.

+ Khoai lang trắng tươi luộc chín để xông, rồi ăn khoai nóng, uống nước luộc khoai nóng cho ra mồ hôi.

+ Khoai lang 1 củ (400g), gạo 200g, đậu xanh 1/2 bát cơm, mã thầy 4 củ, củ cải 1 củ, tỏi 3 nhánh, thịt gà 150g, tôm nõn 70g, gia vị. Tất cả giã nát hoặc thái nhỏ nấu nhừ, riêng đậu xanh và mã thầy cho vào sau rồi nấu nhừ tiếp.

– Chữa táo bón: Ăn khoai luộc đơn thuần hoặc chấm mật, chấm vừng; ăn với cà pháo cả quả hoặc thái chỉ cà, nghiền cùng khoai thành khối. Các cách khác:

+ Uống nước luộc khoai (khoai phải rửa sạch).

+ Nấu chè khoai tươi hoặc khô với vừng và ít hoa quế.

+ Dùng nước cốt luộc khoai tươi hay khô đã giã nát, nếu bị trĩ thì uống hàng tháng nước này vào buổi sáng.

+ Ăn bánh làm bằng khoai lang với vừng hoặc dừa. Khoai lang tươi xào dầu vừng. Canh rau lang. Rau lang luộc chấm nước mắm gừng tỏi hoặc nước sốt cà chua, chấm vừng lạc (giã nhỏ). Nên làm sẵn bột khoai khô với vừng tán mịn, quấy uống mỗi sáng với nước đường.

– Trẻ biếng ăn: Cho ăn dặm bằng bột khoai lang vàng đỏ quấy với bột, sữa.

– Quáng gà: Lá khoai lang non xào gan gà hoặc gan lợn.

– Thiếu sữa: Lá khoai lang tươi non 250g, thịt lợn 200g thái chỉ. Xào chín mềm, thêm gia vị.

– Viêm tuyến vú: Khoai lang trắng gọt vỏ, giã nhuyễn đắp lên vú, có thể phối hợp với tỏi giã nhuyễn để đắp.

– Thận âm hư, đau lưng mỏi gối: Lá khoai lang tươi non 30g, mai rùa 30g, sắc kỹ lấy nước uống.

– Thận dương hư, đi tiểu nhiều lần: Hầm thịt chó với khoai lang, cho thêm chút rượu và gia vị.

– Chữa ngộ độc sắn: Khoai lang gọt vỏ giã nát thêm nước, vắt lấy nước cốt. Uống cách nhau 1/2 giờ.

– Say tàu xe: Củ khoai lang tươi nhai nuốt cả nước và bã.

– Phụ nữ băng huyết: Rau lang tươi một nắm giã nát, lấy nước cốt uống.
Vàng da: Nấu cháo đặc bằng khoai với gạo hoặc bột ngô.

– Mụt nhọt: Khoai lang củ 40g, lá bồ công anh 40g, đường hoặc mật mía giã nhuyễn bọc vào vải, đắp lên mụn nhọt. Để hút mủ nhọt đã vỡ, lấy lá khoai lang non 50g, đậu xanh 12g, thêm chút muối, giã nhuyễn bọc vào vải đắp.

Ths Bs Lâm Văn Tiên