Diễn Đàn - Bệnh học U TRUNG THẤT (Mediastinal Tumors)
Đọc và ngẫm: "Lại như xét bệnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bệnh, đó là tội dốt nát. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!
+ Tạo chủ đề mới
Đang hiện 1 đến 3 của 3

Chủ đề:
Bệnh học U TRUNG THẤT (Mediastinal Tumors)

  1. #1
    Người quét lá LUONGYVIET's Avatar
    Tham gia
    Mar 2011
    Đến từ
    Xứ ngàn hoa
    Bài viết
    1,920
    Cám ơn
    247
    Được cám ơn 1,033/679 bài

    Mặc định Bệnh học U TRUNG THẤT (Mediastinal Tumors)

    Bệnh học U TRUNG THẤT (Mediastinal Tumors)

    U trung thất là các khối u nguyên phát hoặc thứ phát, ác tính hoặc lành tính ở trung thất và có nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể bắt nguồn từ 1 đến 3 lá thai ( nội bì, trung bì, ngoại bì) hoặc bắt nguồn từ những mô trưởng thành đã được xác định trong cơ thể, chúng phát triển chậm, tiềm tàng trong một thời gian dài, có khi tới vài chục năm.

    1. Dịch tễ học

    + U trung thất chiếm khoảng 3-7% các bệnh ung thư, thường hay gặp ở nam giới hơn nữ giới, tỷ lệ phát hiện trong cộng đồng 0,15/100.000.

    + U trung thất chiếm khoảng 90% các bệnh lý của trung thất, ít có triệu chứng lâm sàng, thường được phát hiện tình cờ qua chụp X-quang lồng ngực định kỳ (20-26%). Các u trung thất rất đa dạng, không có các triệu chứng lâm sàng điển hình nên việc chẩn đoán trước mổ thường gặp nhiều khó khăn và đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm.

    + U trung thất ác tính chiếm từ 25-42%, hay gặp nhất là u tuyến ức, u thần kinh, u tế bào mầm ác tính và lymphoma… Tỷ lệ u trung thất ác tính thay đổi theo vị trí của khối u trong trung thất như: trung thất trên 59%, trung thất giữa 29% và trung thất dưới 16%. Tỷ lệ ác tính cũng thay đổi theo tuổi, lứa tuổi 30-50% có tỷ lệ ung thư cao nhất, ở trẻ em dưới 10 tuổi hầu hết là u lành tính.

    2. Giải phẫu định khu trung thất

    Trung thất là bộ phận quan trọng của lồng ngực, nằm giữa hai lá phổi, là khoảng không gian hình thang có 6 mặt. Mặt trước trung thất là mặt sau xương ức, mặt sau là dây chằng sống che phủ mặt trước các đốt sống lưng, hai bên là màng phổi trung thất. Giới hạn trên là lỗ cổ ngực của lồng ngực, giới hạn dưới là phần giữa mặt trên cơ hoành. Có nhiều cách phân chia khu vực của trung thất.

    Bệnh học u trung thất

    2.1. Phân chia của Felson

    Trên bình diện nghiêng, trung thất có 3 vùng:

    + Trung thất trước: Giới hạn ở phía trước là mặt sau xương ức, phía sau là mặt trước của khí quản và bờ trước của tim.

    + Trung thất giữa: Giới hạn của trung thất trước đến quá bờ trước của cột sống lưng 1cm, phần này chứa tim, màng tim và thần kinh hoành.

    + Trung thất sau: Trải từ mặt phẳng trên tới rãnh bên cột sống và tới cung sau của các xương sườn, gồm có thực quản, động mạch chủ ngực, các tĩnh mạch đơn, thần kinh X và thần kinh giao cảm.

    Trên bình diện phẳng, trung thất chia thành 3 tầng:

    + Tầng trên: Bắt đầu từ lỗ cổ ngực đến mặt phẳng ngang đi qua mặt dưới quai ĐMC, mặt phẳng này đi qua bờ trên đốt sống lưng D4 và qua khớp nối giữa xương ức với thân xương ức. Tầng này bao gồm tĩnh mạch cánh tay đầu phải, thân tĩnh mạch vô danh, nửa trên TM chủ trên, quai ĐMC cùng với các nhánh của nó tách ra ( ĐM cánh tay đầu phải, ĐM cảnh gốc trái, ĐM dưới đòn trái), ống ngực và các dây thần kinh X, thần kinh hoành, thần kinh quặt ngược trái.

    + Tầng giữa: Giới hạn bởi mặt phẳng từ dưới quai ĐMC đến dưới carina, tầng này là một khoang rất hẹp.

    + Tầng dưới: Tiếp theo đến mặt trên cơ hoành, phần này có tim và màng tim.

    2.2. Phân chia theo Sabiston

    Trung thất được chia thành 4 khu là trung thất trên, trước, giữa và trung thất sau.

    + Trung thất trên: Nằm trên mặt phẳng ngang từ góc Louis đến khe đốt sống D4-D5.

    + Trung thất trước: Là một khoang rất hẹp nằm giữa màng ngoài tim và mặt sau xương ức, vùng này chỉ có ít tổ chức liên kết và bạch huyết.

    + Trung thất giữa: Là khoang chứa tim, màng ngoài tim, các mạch máu lớn, khi phế quản và hạch lympho.

    + Trung thất sau: Mặt sau màng tim cho đến hết cột sống. Vùng này chứa các thành phần rất quan trọng nối liền 3 đoạn cổ – ngực – bụng như thực quản, khí phế quản, ĐMC ngực, hệ TM đơn, ống ngực, các dây thần kinh X, thần kinh hoành và chuỗi giao cảm ngực.

    Đây là cách phân chia có tính thực tế lâm sàng và được công nhận rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, sự phân chia trung thất thành từng vùng chỉ là một quy ước định khu về cầu tạo hình thái hoặc về bệnh lý. Thực tế các vùng của trung thất liên tục với nhau và liên quan chặt chẽ với nhau, các mặt phẳng phân chia chỉ mang tính chất tương đối.

    3. Vị trí các khối u trung thất

    Mỗi loại u trung thất thường có một vị trí ưu tiên hay gặp, một u còn có thể lan sang tầng hay ngăn kế cận. Vậy khi đánh giá một u trung thất thì đầu tiên cần phải xác định vị trí của khối u thuộc khu vực trung thất. Mỗi khu vực trung thất có những đặc điểm tổn thương khác nhau, do đó có thể giúp cho định hướng chẩn đoán và thái độ xử trí.

    U tuyến ức thường hay gặp ở tầng trên và tầng giữa trung thất trước. U quái và u nang bì thường gặp ở tầng giữa lan xuống tầng dưới trung thất trước, các u hạch lympho thường ở trung thất giữa. U thần kinh thường hay gặp ở trung thất sau trong máng sườn cột sống.

    Tuy nhiên có thể gặp u thần kinh ở trung thất trước và u quai ở trung thất sau, nhưng hiếm gặp.

    Phân loại u trung thất của Sabiston 1991

    Trung thất trên Trung thất trước – giữa Trung thất sau
    U tuyến ức
    Lymphoma

    U tuyến giáp

    U, hạch di căn

    U cận giáp

    Phồng ĐMC

    Lymphoma
    U di căn

    U quái

    Nang phế quản

    Nang màng tim

    Phồng ĐMC

    U thần kinh
    Lymphoma

    Thoát vị

    Phồng ĐMC ngực

    Phân chia u trung thất theo vị trí của Duve 2005

    Trung thất trước trên % Trung thất giữa % Trung thất sau %
    U tuyến ức
    Lymphoma

    U tế bào mầm lành

    U tế bào mầm ác

    Carcinoma

    Cyst ( nang)

    U trung mô

    U nội tiết

    Các loại u khác
    Cyst (nang)

    U lympho

    U trung mô

    Carcinoma

    Các loại u khác

    U thần kinh lành
    U thần kinh ác

    Cyst

    U trung mô

    U nội tiết

    Các loại u khác

    Xếp loại u trung thất của Nguyễn Đình Kim 1996

    Các loại u trung thất

    %

    U thần kinh
    U tuyến ức và nang tuyến ức

    U quái

    U nang dạng ruộ

    U lympho

    U nang màng phổi, màng tim

    Các loại u khác

    4. Lâm sàng

    4.1. Đặc điểm chung

    + Biểu hiện lâm sàng của u trung thất rất nghèo nàn. Các dấu hiệu lâm sàng phụ thuộc vào vị trí, kích thước, tính chất của các khối u.

    + Có 55-65% các bệnh nhân u trung thất có triệu chứng khi phát hiện đc bệnh. Có 54% bệnh nhân u trung thất lành tính và 15% bệnh nhân u trung thất ác tính không có triệu chứng lâm sàng.

    + Trẻ em thường hay có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng hơn do trung thất nhỏ.

    +nCác biểu hiện lâm sàng và tỷ lệ ác tính hay gặp nhất là các u trung thất trên, sau đó là trung thất sau và giữa.

    4.2. Một số dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của u trung thất

    Các triệu chứng của u trung thất được Sabiston và cộng sự tổng kết trên 441 bệnh nhân: đau ngực 29%, khó thở 22%, ho, sốt 18%, sút cân 9%, có hội chứng tĩnh mạch (TM) chủ trên 8%, có triệu chứng nhược cơ 10%, mệt mỏi 6%, khó nuốt 4%, có mồ hôi về đêm 3%. Các hội chứng chỉ điểm của khối u trung thất ác tính là chèn ép tĩnh mạch chủ trên, hội chứng Claude – Bernard – Horner, nói khan, đau ngực dữ dội. Tuy vậy cần lưu ý là một số u lành tính cũng có thể có các triệu chứng này.

    + Dấu hiệu hô hấp: Ho, khái huyết, khó thở, thở khò khè, thở rít ở thì thở vào.

    + Dấu hiệu chèn ép thần kinh:

    Hội chứng Pancoast – Tobias: Do u xâm lấn sang vùng đỉnh phổi gây chèn ép đám rồi thần kinh cánh tay.
    Hội chứng Claude – Bernard – Horner: Co đồng tử, hẹp khe mắt, sụp mi và bừng đỏ nửa mặt (do chèn ép hạch giao cảm)
    Khàn tiếng (do chèn ép vào dây thần kinh quặt ngược)
    Liệt vòm hoành (do chèn ép thần kinh phế vị)
    Rối loạn hô hấp, cao huyết áp, chảy nước dãi (do chèn ép vào dây thần kinh phế vị)
    Đau ngực (do chèn ép vào thần kinh liên sườn)
    + Dấu hiệu chèn ép mạch:

    Chèn ép tĩnh mạch chủ trên (hội chứng TM chủ trên):

    Bệnh học u trung thất

    Phù áo khoác: Phù mi mắt, phù mặt, phù cổ, đầy hố thượng đòn, phù chi trên và phù ngực
    Tuần hoàn bang hệ trước ngực, giãn mao mạch dưới da, dãn TM
    Tăng áp lực TM chi trên
    Tím tái, nhức đầu, ngủ gà, ngủ gật
    Chèn ép tĩnh mạch chủ dưới (ít gặp):

    Bệnh học u trung thất

    Gan to
    Cổ trướng
    Phù chi dưới
    Tuần hoàn bàng hệ ở thành ngực nếu chèn ép ở phía trên chỗ tĩnh mạch (TM) đơn đổ vào TM chủ trên.
    Chèn ép vào động mạch phổi và tĩnh mạch phổi ít gặp.

    + Chèn ép vào ống ngực: Sẽ xuất hiện hội chứng Mentrier: Có dưỡng chấp trong lồng ngực, cổ trướng dịch dưỡng chấp, phù từ chi dưới đến chi trên.

    + Chèn ép thực quản: Khó nuốt, nấc liên tục ( chèn ép thực quản và thần kinh hoành)

    + Sưng tại một nơi của lồng ngực hoặc vùng xương ức, trên hoặc dưới xương đòn.

    + Toàn thân: Có thể khám thấy hạch vùng cổ, thượng đòn (do di căn), hội chứng Piere Marie (ngón tay dùi trống, dày cốt mạc đầu chi, đau các khớp ở bàn chân, cổ chân, cổ tay, bàn tay).

    Theo phân khu trung thất, nếu u và nang khu trú ở phần trung thất nào sẽ thể hiện hội chứng trung thất của vùng đó:

    Hội chứng trung thất trước: Khó thở tăng khi nằm ngửa, đau ngực sau xương ức, hội chứng TM chủ trên.
    Hội chứng trung thất trước trên: Dấu hiệu chèn ép khí quản và TM chủ trên.
    Hội chứng trung thất giữa: rối loạn hô hấp, chèn ép thần kinh và phế quản, hội chứng phế quản – thần kinh quặt ngược (khàn tiếng do chèn ép thần kinh quặt ngược, tiếng thở rít, khó thở).
    Hội chứng trung thất sau: Khó nuốt (chèn ép thực quản), hội chứng Claude – Bernard – Horner (u ở trung thất sau trên), hội chứng Pancoast – Tobias (nếu u xâm lấn sang đỉnh phổi).
    Một số u trung thất nguyên phát sản xuất ra các hormone hoặc kích thích gây ra các triệu chứng toàn thân, có thể gây ra các hội chứng:

    Hội chứng Cushing: Thường do u carcinoid tăng tiêng ACTH lạc chỗ
    Hội chứng nhiễm độc giáp: Do bướu giáp nằm ở trung thất có biểu hiện cường giáp, tăng tiết các hormone tuyến giáp (T3, T4…) vào máu. Thường do các khối u trung thất như: Thyroid adenoma/ carcinoma gây ra.
    Tăng cung lượng tim: do u tủy thượng thận
    Tăng calci máu: Do giải phóng nhiều hormone cận giáp từ u cận giáp trong trung thất. Thường do các khối u trung thất như: parathyroid adenoma/carcinoma ( tuyến cận giáp), u lympho Hodgkin gây ra.
    Tăng huyết áp: Thường do các khối u trung thất như u tủy thượng thận (pheochromocytoma), chemodectoma, ganglioneuroma, neuroblastoma gây ra.
    Hạ đường huyết: Thường do các khối u trung thất như mesothelioma, teratoma, fibrosarcoma… gây ra
    Ỉa chảy: Thường do các khối u trung thất như ganglioneuroma, neuroblastoma, neurfibroma gây ra.
    Phì đạ tuyến vú nam: Thường do các khối u trung thất như u không tinh gây ra.
    Một số u trung thất có thể gây ra hội chứng/ triệu chứng lâm sàng đặc biệt:

    U tuyến ức: Nhược cơ, giảm sản các tế bào hồng cầu trong máu, giảm sản các tế bào bạch cầu trong máu, thiếu máu do tạo máu, thiếu gamaglobulin trong máu, bệnh xơ cứng tổ chức tiến triển, thiếu máu tan huyết, bệnh to thực quản, bệnh viêm da cơ, bệnh lupus ban đỏ hệ thống, viêm cơ tim, bệnh collagen mạch máu.
    U lympho: Thiếu máu, nhược cơ
    U xơ thần kinh: Bệnh Recklinghausen
    U các tế bào ưa bạc: Hội chứng Cushing
    U các tế bào ưa bạc, u tuyến ức: Các u tuyến tiết nhiều loại hormone
    U tuyến tiết nhiều lạo hormone, u trung mô: Các bệnh lý về xương khớp
    Bệnh Hodgkin: Đau sau uống rượu, sốt Pel-Ebstein
    U nguyên bào thần kinh: Các dị sản của tế bào hồng cầu
    Các nang có nguồn gốc từ ruột: Loét đường tiêu hóa, dị tật bẩm sinh của cột sống.
    Cận lâm sàng
    5. Chẩn đoán hình ảnh

    5.1. X- quang

    Chiếu, chụp thẳng, nghiêng, chụp cắt lớp vi tính, chụp phế quản cản quang, chụp X-quang có uống baryt.

    Bệnh học u trung thất

    Đối với những khối u có kích thước nhỏ ở trung thất trước (u tuyến yên), chụp phim thường thẳng, nghiêng ít khi thấy hình ảnh của u, cần chụp cắt lớp vi tính để phát hiện.

    Phim chụp lồng ngực thẳng và nghiêng cho nhiều thông tin quan trong về vị trí u trong trung thất, kích thước, sự di chuyển và thay đổi của các cơ quan trong trung thất và tổ chức xung quanh, tỷ trọng tương đối của u (u là đặc hay nang, có canxi hóa hay không và dạng canxi hóa). Vị trí u trong trung thất giúp thu hẹp phạm vi chẩn đoán phân biệt.

    5.2. Chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ

    Là phương pháp chẩn đoán rất có giá trị, có tiêm thuốc và phát hiện dấu hiệu tĩnh mạch bị chèn ép khi chụp TM chủ trên có cản quang.

    Bệnh học u trung thất

    Đánh giá chính xác vị trí, kích thước khối u, tính chất ác tính, xâm lấn cơ quan xung quanh rất có ích cho định hướng sinh thiết và lên kế hoạch điều trị.

    Ưu điểm: Đánh giá và phát hiện khối u từ rất sớm.

    <img src=http://www.benhhoc.com/image.php?type=sigpic&userid=7049&dateline=1326805801 border=0 alt= />

  2. Có 1 người đã cám ơn LUONGYVIET: Ẩn / Hiện tất cả


  3. #2
    Người quét lá LUONGYVIET's Avatar
    Tham gia
    Mar 2011
    Đến từ
    Xứ ngàn hoa
    Bài viết
    1,920
    Cám ơn
    247
    Được cám ơn 1,033/679 bài

    Mặc định

    (Tiếp theo và hết)

    5.3. Soi phế quản

    Soi bằng ống soi cứng hay mềm. Trong khi soi làm sinh thiết phế quản để chẩn đoán mô học. Không dùng ống soi cứng khi nghi ngờ có phình ĐMC.

    Chống chỉ định soi phế quản đối với các trường hợp: Khối u to đã có chèn ép khí – phế quản, có phù áo khoác, viêm nhiễm đường hô hấp.

    5.4. Soi thực quản

    Khi có ung thư thực quản, hoặc u xâm lấm vào thực quản gây chèn ép, nuốt vướng hay nuốt nghẹn, soi làm sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh học.

    5.5. Soi trung thất

    Mục đích thăm dò trung thất trước trên tới chỗ phân chia của khí quản

    Bệnh học u trung thất

    Hiện nay ít sử dụng

    5.6. Soi màng phổi

    Thường soi trung thất qua khoang màng phổi. Thường bơm khí vào khoang màng phổi để phổi xẹp tạm thời và thuận lợi cho soi.

    Hiện nay ít sử dụng.

    5.7. Chọc sinh thiết khối u xuyên thành ngực để chẩn đoán tế bào học và mô bệnh học

    Kỹ thuật này có thể thực hiện mù khi khối u to, hoặc dưới sự hướng dẫn của CLVT.

    5.8. Các xét nghiệm đánh giá Bilan

    Công thức máu, chức năng đông máu, sinh hóa

    Siêu âm ổ bụng: Phát hiện di căn gan

    Xạ hình xương để phát hiện di căn xương.

    6. Chẩn đoán

    6.1. Chẩn đoán xác định

    + Chẩn đoán xác định dựa vào LS và CLS trong đó cận lâm sàng với cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ và bệnh phẩm sinh thiết chẩn đoán mổ bệnh học có giá trị cao, lâm sàng chỉ có tính chất gợi ý.

    + Mục tiêu chẩn đoán là xác định được bản chất tổ chức học của các khối u trung thất để có thể đưa ra các phác đồ điều trị tối ưu.

    + Chẩn đoán ban đầu cần dựa vào khai thác bệnh sử và khám thực thể, xác định các hội chứng toàn thân liên quan tới nhiều loại u trung thất.

    + Chẩn đoán mô bệnh học sau phẫu thuật là quyết định.

    6.2. Chẩn đoán phân biệt

    + Hội chứng trung thất cấp: Có thể gặp trong viêm mủ trung thất, áp xe trung thất, thủng thực quản, hạch trung thất, viêm mủ sau bệnh thực quản hoặc bệnh phổi, tràn khi trung thất trong trường hợp tổn thương khí – phế quản. Tùy theo từng bệnh mà thể hiện các triệu chứng ho tiếng đồng thau, khó nuột, khó thở, đau cổ, sốt cao, dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc rõ, suy thở và trụy tim mạch.

    + Hội chứng trung thất mãn tính: Có thể có hội chứng TM chủ trên gặp trong xơ hóa trung thất hay viêm xơ hóa trung thất hay viêm xở mãn do lao hoặc giang mai. Để chẩn đoán cần điều trị thử bằng các thuốc đặc hiệu, đánh giá hiệu quả sau 3-4 tuần.

    + Bệnh giả u trung thất: Những bóng mờ trên X-quang cạnh trung thất, nhưng nguyên nhân là ở ngoài trung thất như giãn TM chủ trên, áp xe Pott, u thành ngực, ung thư phế quản, u lao cạnh trung thất, tràn dịch màng phổi cạnh trung thất, các nang phổi sát trung thất.

    6.3. Chẩn đoán định khu

    Khối u ở trung thất trước trên: Hay gặp nhất là u tuyến ức, bướu giáp, u quái.
    Khối u trung thất trước giữa: U nang bì, u tuyến ức hoặc tuyến ức phì đại.
    Khối u trung thất trước dưới: Thường gặp nang màng tim, màng phổi, u mỡ
    Khối u ở trung thất giữa: Nang phế quản, u loạn phát, u lành tính, hạch lao xơ nhiễm, Hodgkin, ung thư phế quản gốc di căn vào trung thất, lympho sarcoma, bệnh bạch cầu thể lympho mãn tính, u mỡ.
    Khối u trung thất sau: Thường gặp u thần kinh, hay gặp ở trung thất bên phải, ung thư thực quản.
    6.4. Phân loại mô bệnh học các khối u trung thất

    Nhiều tác giả phân loại và ước tính tỷ lệ các loại trung thất và u tuyến ức. Bariety (1958) thống kê các bệnh nhân u trung thất được theo dõi ở Pháp và các nước khác đã đưa ra phân loại:

    6.4.1. U phôi

    + U phôi chiếm một tỷ lệ cao trong các khối u trung thất, ước tính khoảng 35% theo Bariety. Strollo và cộng sự (1997) thì u phôi chiếm khoảng 15% các khối u ở trung thất.

    + Theo tác giả Việt Nam, u phôi chiếm khoảng 23-43% các loại u trung thất, Nguyễn Đình Kim (1996) cho rằng u phôi chiếm tỷ lệ cao nhất trong các u trung thất (40%).

    + U phôi dị loại: còn gọi là u tế bào mầm. Chiếm khoảng 17% trong đó 15% là lành tính, 2% là ác tính. U phôi chia ra 2 loại:

    U phôi dị loại lành tính (u tế bào mầm lành tính) bao gồm:

    U quái trưởng thành: Phát triển từ hai hoặc ba lá thai, nguồn gốc của u quái là những tế bào thai ở rãnh giữa nguyên thủy và phần phụ cận đã thoát khỏi sự kiểm soát của các cơ quan nguyên phát, những tế bào này thuộc vùng khe mang thứ ba. U quái thường lành tính (chỉ 10% lành tính) là các u đặc hoặc có một phần chứa đựng da, lông, sụn, thần kinh, não, răng, màng tim,… Vỏ u thường bị xơ hóa và vôi hóa.
    U nang bì: Có nguồn gốc từ những tế bào phôi của lá thai ngoài, thành phần gồm các phần tử của da, lông, tóc, tuyến bã, tuyến mồ hôi.
    U phôi dị loại ác tính (u tế bào mầm ác tính):

    U phôi dị loại ác tính nguyên phát ở trung thất rất ít gặp và thường là sự pha trộn của nhiều type tế bào, được chia làm 3 loại:

    U quái chưa trưởng thành: U gồm nhiều thành phần, nguồn gốc từ hai hoặc ba lá thai, thành phần ác tính chủ yếu là mô thần kinh – nội tiết và mô bào thai, tùy theo mức độ chưa thuần thục của mô thần kinh mà người ta chia thành các độ ác tính khác nhau.
    U tinh: U tính chiếm khoảng 25-505 các u tế bào mầm ác tính ở trung thất, có 10% u tinh gây ra hội chứng chèn ép TM chủ trên. Về mô học, u tinh được coi là thuần khiết nếu hàm lượng β-HCG dưới 10UI/ml, còn nếu hàm lượng cao hơn thì là u hỗn hợp U tinh hay gặp ở nam giới trẻ tuổi tử 20-30, luôn gây ra triệu chứng tràn dịch màng phổi, hiện tượng vú to ở nam giới và thường gây hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên, di căn xa, hàm hượng β-HCG tăng cao
    U không tinh bao gồm:
    Ung thư nhau: phát triển từ lớp hợp bào lá nuôi
    U xoang nội bì: Các tế bào u xếp thành dây hoặc hốc trong chứa nhân rõ.
    Ung thư biểu mô phôi: Các u này lớn, hay xâm nhiễm các tạng lân cận và hay gây di căn hạch trung thất, hạch thượng đòn
    Nói chung u phôi dị loại ác tính là loại u có tiên lượng xấu, chỉ nên mổ khi xác định cắt bỏ triệt để được u, sau mổ cần phải xạ trị hoặc hóa trị kết hợp.

    U phôi đồng loại:

    Nang phế quản
    Nang cận thực quản, nang dạ dày
    Nang ruột – thần kinh
    Nang do viêm túi thanh mạc
    Nang khoang cơ thể
    U có nguồn gốc mạch máu
    Thoát vị màng não tủy
    6.4.2. U có nguồn gốc từ những tạng hay mô trưởng thành

    6.4.3. Những u hạch

    7. Điều trị

    Phương pháp điều trị nội khoa chỉ có tác dụng điều trị hỗ trợ hoặc điều trị triệu chứng không có khả năng điều trị căn nguyên.

    Đa số các phẫu thuật viên lồng ngực đều chủ trương phẫu thuật u trung thất. Phẫu thuật vừa là một phương pháp điều trị. Và là phương pháp chẩn đoán xác định bản chất của khối u giúp cho việc xác lập kế hoạch và chiến thuật điều trị bằng tia xạ hay hóa chất chống ung thư.

    Vì vậy những bệnh nhân có u trung thất trong những trường hợp không có chống chỉ định tuyệt đối thì nên có chỉ định phẫu thuật sớm. Chỉ định phẫu thuật không cần căn cứ vào thời gian mắc bệnh và các biểu hiện có hay không có các triệu chứng lâm sàng.

    Bệnh học u trung thất

    Trước phẫu thuật cần thực hiện các công việc:

    Phân biệt u nguyên phát hoặc u thứ phát có cùng biểu hiện X-quang
    Phát hiện các triệu chứng toàn thân ảnh hưởng tới phẫu thuật
    Đánh giá chèn ép của khối u tới các thành phần trung thất như cây phế quản, ĐM phoi, ĐMC và TM chủ trên.
    Xác định liệu u có xâm lần tới tủy sống, các mạch máu lớn, phẫu thuật u trung thất khá phức tạp vì u dính và chèn ép lâu ngày vào các thành phần quan trọng nên khi phẫu thuật chảy máu nhiều, phẫu thuật viên phải nắm vững kỹ thuật về mạch máu như khâu, nối, vá mạch máu.
    Đánh giá khả năng cắt u.
    Điều trị cụ thể một số loại u trung thất hay gặp:

    7.1. Điều trị u tuyến ức:

    Chỉ định: Tất cả các u tuyến ức đều có chỉ định điều trị ngoại khoa. Trường hợp u tuyến ức có kèm theo nhược cơ nặng thì trước phẫu thuật phải được điều trị nội khoa tốt. Chỉ định phẫu thuật tốt nhất ở giai đoạn nhược cơ nhóm I và II theo phân loại của Perlo – Osserman 1979.

    Kỹ thuật:

    Đường mổ vào tuyến ức là đường dọc giữa ở 2/3 trên xương ức, hoặc mở dọc toàn bộ xương ức để mổ cho thuận lợi, hoặc đường mổ trước bên tùy theo khối u bên phải hoặc bên trái.

    Bóc tuyến ức và cả u: Với những trường hợp u đã xâm lấn vào tổ chức xung quanh và các mạch máu lớn cần phải cắt ghép mạch máu nếu cần hoặc cắt màng tim, màng phổi, cần dẫn lưu khoang màng phổi, màng tim.

    Kết quả: Những trường hợp u tuyến ức ở giai đoạn chưa xâm lấn chỉ cần phẫu thuật đơn thuần là đủ. Còn u tuyến ức ở giai đoạn xâm lấn sau phẫu thuật cần điều trị kết hợp với tia xạ hoặc hóa chất cho kết quả tố 85-90% sống sau 5 năm.

    Tia xạ hậu phẫu liểu 60-70 Gy.

    Hóa chất với phác đồ PAC, ADOC, PE.

    7.2. Điều trị u thần kinh.

    Phải tiến hành phẫu thuật triệt đểm đường vào là đường mở ngực sau bên, bên phải hoặc bên trái.

    Đối với những u ác tính, có thể gặp khó khăn trong quá trình phẫu thuật, có khi chỉ định lấy được một phần khối u. Phẫu thuật sẽ gặp nhiều khó khăn đối với những loại u thần kinh có hình đồng hồ cát và phát triển lan vào ống tủy sống.

    Biến chứng trong và sau phẫu thuật: Có thể rách TM chủ trên, gây chảy máu nhiều, liệt hai chi dưới do u thần kinh phát triển qua lỗ tiếp hợp vào tủy sống.

    Tia xạ và hóa chất ít hiệu quả.

    7.3. Điều trị u quái.

    Mặc dù đặc tính lành tính nhưng khi cắt u gặp nhiều khó khăn vì thường dính nhiều với tổ chức xung quanh. Phẫu thuật thường chảy máu nhiều và dễ tổn thương các cơ quan lân cận.

    Tiến hành mở ngực đường dọc giữa xương ức ở 2/3 trên hoặc xẻ dọc toàn bộ xương ức, u dính vào màng tim, màng phổi trung thất hai bên, dính vào TM chủ trên, TM vô danh và dây thần kinh hoành trái. Phẫu thuật mở màng tim để xác định ranh giới của ĐMC, TM chủ trên rồi cắt u ở phía trên ĐM và TM.

    U quái nằm lệch về một bên của trung thất thì mở đường trước bên thuận lợi và nhẹ nhàng hơn. Sau phẫu thuật cần đặt sonde dẫn lưu màng phổi.

    Kết hợp tia xạ và hóa chất được đặt ra khi những u tế bào mẩm ác tính và phẫu thuật không triệt để, không lấy hết tổn thương.

    Có thể tia xạ hậu phẫu liểu 60-70 Gy.

    Hoặc kết hợp hóa chất phác đồ PVB, PEB.

    7.4. Điều trị triệu chứng

    Nâng cao thể trạng, tăng cường miễn dịch

    Điều trị chống đau, chống chèn ép

    An thần, liệu pháp tâm lý.

    8. Tiên lượng

    Tiên lượng bệnh rất khác nhau tùy thuộc vào loại u trung thất cụ thể

    Hình ành: [Nội dung ẩn, đăng nhập để xem]


  4. #3
    Banned Tuandienmay's Avatar
    Tham gia
    Jul 2019
    Đến từ
    Hà Nội
    Bài viết
    29
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn 0/0 bài

    Mặc định

    Quá hay,quá bổ ích,mình chưa từng đọc bài viết nào hay như thế này,quả là một bài viết quá tuyệt vời


+ Tạo chủ đề mới

# Đăng bình luận qua Facebook

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •