Đọc và ngẫm: "Rượu nhạt uống lắm cũng say. Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm. [Ngạn ngữ Việt nam ] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA

QuocBaoNet

Giải phẫu tai

Cho điểm
TAI
Bài giảng Giải phẫu học
Chủ biên: TS. Trịnh Xuân Đàn
Là cơ quan thính giác và thăng bằng. Về giải phẫu thì rất phức tạp gồm có 3 phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong.
Về sinh lý tai ngoài, tai giữa là phần dẫn truyền xung động và làm tăng cường các xung động, còn tai trong mới chính là bộ phận nhận âm thanh.
1
. TAI NGOÀI (AURIS EXTERNUS)
Gồm có vành tai và ống tai ngoài, đi từ vành tai tới màng nhĩ.
1.1. Vành tai (auricula)

Vành tai như hình 1 vành loa có những chỗ lồi chỗ lõm giúp ta thu nhận âm thanh từ mọi phía, mà không cần cử động tai hoặc xoay đầu về phía tiếng động như động vật. Hai bên dính vào đầu, ở trước xương chũm, ở sau khớp thái dương hàm, cao từ 6 - 6,5 cm, rộng từ 25 - 35mm, vành tai có 2 mặt và 1 chu vi.
1.1.1 Mặt ngoài
(trước)
Ở giữa có một xoắn sâu gọi là xoắn nhĩ tiếp với lỗ ống tai ngoài và xung quanh xoắn nhĩ có 4 gờ.
- Gờ luân (helix) hay gờ vành xe là gờ chạy theo bờ chu vi của loa tai, đầu trước của gờ bắt đầu từ xoăn tai, gọi là trụ gờ luân. Nơi gờ luân đổi hướng để chạy xuống dưới có một cục nhỏ nhô lên gọi là gai luân. Phần dưới của gờ luân gọi là đuôi gờ luân.


1. Hố thuyền

2. Lỗ ống tai ngoài
3. Bình nhĩ
4. Khuyết trên bình nhĩ
5. Dái tai
6. Đối bình
7. Gờ đối luân
8. Ngành trước gờ đối luân
9. Rãnh thuyền
10. Gờ luân (gờ vành xe)
Hình 5.15.
Vành tai
- Gờ đối luân (antthelix) là gờ chạy song song ở phía trước và ở trong gờ luân. Phần trên gờ đối luân chia thành 2 trụ đối luân, giữa hai trụ là hố tam giác (hố thuyền).
- Gờ bình nhĩ hay bình tai (tragus) là một gờ nhỏ chắn phía trước xoăn tai.
- Gờ đối bình (antitrngus) là một gờ nhỏ nằm đối diện với bình tai và cách bình tai bởi khuyết gian bình (khuyết liên bình).
Ở dưới cùng là phần mềm không có sụn gọi là dái tai. Dái tai là một nếp mô liên kết và mỡ được phủ bởi da.
1.1.2. Mặt trong
(sau)
Là mặt áp vào da đầu và hướng ra sau, có chỗ lõm lồi ngược với mặt ngoài. Mặt trong tai giới hạn với mặt bên của sọ bởi một rãnh gọi là rãnh tai sau.
1.1.3. Cấu tạo

Loa tai được cấu tạo bởi da, sụn, dây chằng và cơ.
* Da: da phủ loa tai mỏng, dính chặt vào mặt ngoài của sụn hơn là mặt trong. Có nhiều tuyến bã, nhiều nhất ở xoăn tai và hõm thuyền. Da của loa tai liên tiếp với da phủ ống tai ngoài.
* Sụn vành tai: là một mảnh sụn sợi đàn hồi, tạo nên những chỗ lồi chỗ lõm ở loa tai. Ở dái tai không có sụn chỉ có sợi mô mỡ. Sụn ở bình tai liên tiếp với sụn của ống tai ngoài. Sụn tai có tác dụng tạo và giữ hình dáng của loa tai.
* Dây chằng: có 2 loại.
- Dây chằng ngoại lai: cố định loa tai vào mặt bên của đầu.
+
Dây chằng tai trước: đi từ bình tai và gờ luân tới rễ của mỏm gò má xương thái dương.
+
Dây chằng tai sau: đi từ mặt sau xoăn tai tới mặt ngoài mỏm chũm.
+
Dây chằng tai trên: đi từ mặt sau xoăn tai tới mặt ngoài xương trai.
- Dây chằng nội tai: là những dải sợi đi từ gờ luân tới bình tai và những dải sợi căng giữa đuôi của gờ luân tới gờ đối luân.
* Các cơ: cô 2 loại
- Cơ ngoại tai: có 3 cơ: cơ tai trước, cơ tai trên, cơ tai sau.
- Có 8 cơ nội tai: cơ luân lớn, cơ luân bé, cơ bình tai, cơ đối bình tai, cơ tháp tai, cơ ngang tai, cơ chéo tai và cơ khuyết nhĩ luân. Các cơ trên kém phát triển nên vành tai không cử động được.
1.2. Ống tai ngoài (meatus acusticus externus)

1.2.1. Hình thể

Là một ống đi từ xoăn nhĩ tới màng nhĩ. Do màng nhĩ nằm chếch xuống dưới và vào trong, nên thành trước dưới của ống tai ngoài dài hơn thành trên sau (thành trên sau dài 25 mm, thành trước dưới dài 30-31mm).
Ống tai ngoài cong hình chữ S, lúc đầu hướng vào trong, ra trước và lên trên, rồi hơi cong ra sau và cuối cùng lại tiếp tục hướng vào trong, ra trước, nhưng lại hơi xuống dưới. Vì vậy, khi thăm khám màng nhĩ, ở người lớn ta phải kéo loa tai lên trên ra ngoài và ra sau, để giảm bớt độ cong.
Lòng ống tai có hình bầu dục, nhưng không đều nhau. Đường kính lớn nhất ở lỗ tai ngoài hướng xuống dưới và ra sau, còn ở đầu trong của ống tai thì năm ngang.
Ống tai có 2 chỗ hẹp: chỗ hẹp thứ nhất ở nơi tận hết của phần sụn, chỗ hẹp thứ 2 ở phần xương cách xoăn tai 20mm. Ống tai mở ra ngoài ở đáy xoăn tai bởi lỗ ống tai ngoài.
1.2.2. Liên quan

- Phía trước: ống tai ngoài liên quan với mỏm lồi cầu của xương hàm dưới. Lách giữa phần sụn của tai ngoài và mỏm lồi cầu có một phần nhỏ của tuyến nước bọt mang tai. Do vậy, một va chạm vào cầm làm cho lồi cầu xương hàm dưới trật ra sau, có thể làm vỡ ống tai ngoài.
- Phần trên: phần xương ống tai ngoài liên quan với tầng sọ giữa.
- Phía sau: ống tai ngoài ngăn cách với xoang chùm bởi 1 lớp xương mỏng.
1.2.3. Cấu tạo



1.Sụn vành tai 4. Xương đá

2. Sụn ống tai 5. TM cảnh trong
3. Màng nhĩ 6. Hòm tai
7. Tai trong
Hình 5.16.
Cấu tạo tai ngoài
Một phần ba ngoài ống tai ngoài được cấu tạo bởi sụn ống tai, gọi là ống tai ngoài sụn, dài 8mm và liên tiếp ở ngoài với sụn loa tai. Thành trước, sụn có hai chỗ khuyết, khuyết sụn ống tai, làm cho loa tai dễ di động và việc nong rộng ống tai ngoài trở nên dễ dàng hơn.
Hai phần ba trong ống tai ngoài được tạo nên bởi xương, các thành trước, dưới và hầu hết thành sau là do phần nhĩ xương thái dương, còn thành sau trên là do phần trai thái dương. Đầu trong của phần xương ống tai ngoài có một rãnh vòng để bờ chu vi màng nhĩ bám vào, gọi là rãnh màng nhĩ.
Ống tai ngoài được phủ bởi da, liên tiếp với da phủ loa tai và da phủ mặt ngoài màng nhĩ. Da phủ phần sụn có lông và các tuyến tiết đáy tai. Da dính chặt vào sụn xương, nên bị nhọt ở ống tai ngoài sẽ gây đau đớn dữ dội.
1.2.4. Mạch máu thần kinh

* Động mạch: cấp máu cho tai ngoài gồm có các nhánh:
- Động mạch tai sau: nhánh của động mạch cảnh ngoài.
- Động mạch tai sâu: nhánh của động mạch hàm trên.
- Các nhánh tai trước của động mạch thái dương nông.
* Tĩnh mạch: máu từ ống tai ngoài được dẫn về tĩnh mạch cảnh ngoài, tĩnh mạch hàm trên và đám rối tĩnh mạch chân bướm.
* Bạch huyết: bạch huyết từ ống tai ngoài đổ vào các hạch mang tai, các hạch cổ sâu trên.
* Thần kinh: thần kinh ống tai ngoài: nhánh của thần kinh tai thái dương, thuộc thần kinh hàm dưới, chi phối cho thành trước và thành trên.
Nhánh tai của thần kinh lang thang: cảm giác cho thành sau và thành dưới ống tai ngoài.
2. TAI GIỮA (AURIS MEDIA)

Là một hốc nằm trong xương đá gồm có hòm tai là bộ phận chính của tai giữa, trong hòm tai có một chuỗi xương con để dẫn truyền xung động từ màng nhĩ vào tai trong. Hòm tai thông với hầu bởi vòi tai, thông với xoang chùm bởi ống thông hang. Do đó tai giữa gồm 3 phần: hòm tai, hang chùm và vòi tai. Tất cả 3 phần trên đều được phủ bởi một lớp niêm mạc liên tiếp với niêm mạc của hầu.
2.1. Hòm nhĩ (cavitas tympanica)

Hòm nhĩ gồm có 2 phần: phần hòm nhĩ thật sự nằm đối diện với màng nhĩ, ngách thượng như là phần trên màng nhĩ. Hòm nhĩ giống như một thấu kính lõm, 2 mặt chếch xuống dưới, ra ngoài và ra trước. Đường kính độ 15 lạm, gồm có 2 mặt và 4 thành chu vi.
2.1.1. Thành trên
(trần hòm tai)
Còn gọi là trần hòm nhĩ, là một mảnh xương mỏng thuộc phần đá xương thái dương, ngăn cách ngách thượng nhĩ của hòm nhĩ với hố sọ giữa. Nhiễm trùng tai giữa có thể lan truyền qua trần hòm tai tới màng não.
2.1.2. Thành dưới
(thành tĩnh mạch cảnh)
Còn gọi là sàn hòm nhĩ, là một mảnh xương hẹp, mỏng, ngăn cách hòm nhĩ với hố tĩnh mạch cảnh. Sàn thấp hơn thành dưới ống tai ngoài khoảng 1 mm.


1. Cửa sổ tròn 5. Hòm tai

2. Cửa sổ bầu dục 6. Màng nhĩ
3. Ụ nhô 7. Chuỗi xương con
4. Ống vòi nhĩ 8. Trần hòm tai
Hình 5.17.
Hòm tai
2.1.3. Thành trong
(thành mê dạo)
Mặt này liên quan với tai trong.
- Gò nhô (ụ nhô) là một lồi tròn, do vòng thứ nhất của ốc tai tạo nên. Trên mặt gò nhô có những rãnh nhô, rãnh gò nhô, cho các nhánh của đám rối nhĩ thuộc thần kinh nhĩ, nhánh của thần kinh lưỡi hầu nằm.
- Cửa sổ ốc tai hay cửa sổ tròn: ở sau ụ nhô, được đậy bởi màng nhĩ phụ.
- Cửa sổ tiền đình (cửa sổ bầu dục): ở phía sau trên ụ nhô, có nền xương bàn đạp lắp vào.
Hõm nằm giữa cửa sổ tiền đình và cửa sổ ốc tai gọi là xoang nhĩ, liên quan với đoàn bóng của ống bán khuyên sau.
- Lồi thần kinh mặt: do đoạn 2 của ống thần kinh mặt tạo nên, chạy từ trước ra sau ở phía trên cửa sổ tiền đình, rồi uốn cong xuống thành chính của hòm nhĩ.
Lớp xương bọc thần kinh mặt ở đây có thể rất mỏng, nên khi bị viêm tai giữa, thần kinh mặt có thể bị tổn thương.
- Lồi ống bán khuyên ngoài: nằm phía trên lồi ống thần kinh mặt.
- Mỏm hình ốc (mỏm thìa): phía trước trên ụ nhô, có gân cơ căng màng nhĩ thoát ra ở đỉnh chỏm.


1. Ống thông hang

2. Cửa số bầu dục
3. Thần kinh VII
4. Cơ búa
5. Cơ bàn đạp
6. Vòi nhĩ
7. Ụ nhô
8. Lồi TK Jacobson
9. Cửa số tròn
10. ĐM cảnh trong
Hình 5.18.
Mặt mê nhĩ của hòm tai
2.1.4. Thành sau hay thành chũm

Rộng ở trên, hẹp ở dưới, có:
- Đường vào hang (ống thông hang): mở từ một lỗ lớn, không đều, thông ngách thượng nhĩ vôi phần trên của hang chùm phía sau.
- Lồi ống bán khuyên ngoài: từ mặt mê đạo tạt sang, nằm ngang, và lồi ống thần kinh mặt liên tiếp từ mặt mê đạo, quặt thẳng xuống dưới, đều ở phía sau đường vào hang chùm.
- Lồi tháp: thấp hơn, nằm phía trước lồi ống thần kinh mặt, dưới lỗ ống thông hang: có gân cơ bàn đạp thoát ra ở đỉnh tháp để vào hòm nhĩ.
- Lồi hòm như của ống thừng nhĩ nằm ở phía ngoài lồi tháp, có thừng nhĩ chui qua để vào hòm nhĩ.
2.1.5. Thành trước
(thành động mạch cảnh)
Rộng ở trên hơn ở dưới. Thành này có ống cơ căng màng nhĩ ở trên và lỗ hòm nhĩ của vòi tai ở dưới. Dưới lỗ hòm nhĩ của vòi tai là một vách xương mỏng, ngăn cách hòm nhĩ với động mạch cảnh trong. Vì vậy khi bị viêm tai giữa có thể bị đau tai theo nhịp đập của động mạch.


1. Trần hòm tai

2. Xương búa
3. Xương đe
4. Cơ búa
5. TK thừng nhĩ
6. TK mặt
7. Vòi nhĩ
8. Màng nhĩ
9. ĐM cảnh trong
10. Nền hòm tai
Hình 5.19.
Thành ngoài hòm tai
2.1.6. Thành ngoài hay thành màng nhĩ

Vì chủ yếu được tạo bởi màng nhĩ ngăn cách hòm nhĩ với ống tai ngoài. Bờ chu vi của màng nhĩ gắn vào rãnh nhĩ bởi một vòng sụn xơ. Rãnh như là một rãnh vòng không khép kín, thiếu ở phần trên, gọi là khuyết nhĩ. Góc giữa thành màng và thành động mạch cảnh có ống của thừng nhĩ, để thần kinh thừng nhĩ từ hòm nhĩ thoát qua.
2.2.
ng nhĩ (membrana tympanica)
2.2.1. Vị trí và kích thước

Màng nhĩ là một màng mỏng, mầu xám bóng, hơi trong, hình bầu dục, rộng ở trên hơn ở dưới. Màng nhĩ nằm chếch tạo với thành dưới ống tai ngoài một góc khoảng 55
°. Đường kính lớn nhất của màng nhĩ chếch xuống dưới, ra ngoài, đo được khoảng 9-10mm. Đường kính ngắn nhất là đường kính ngang khoảng 8-9mm. Màng nhĩ có hai phần:
- Phần mỏng hay phần trùng gọi là màng mỏng Schrapnelle: là phần phụ, ở trên. nhỏ, mỏng và mềm, tương ứng với khuyết nhĩ, dính trực tiếp vào phần đá của xương thái dương.
- Phần dày hay phần căng: là phần chính ở dưới, lớn hơn, dày và chắc hơn, bờ chu vi dày lên thành một vòng sợi sụn dính vào rãnh nhĩ.
- Khi soi tai ta thấy màng nhĩ nằm hơi nghiêng xuống dưới và ra trước hợp với mặt phẳng ngang thành một góc từ 40 - 45
°, ở giữa màng nhĩ hơi lõm gọi là rốn nhĩ, ở trên rốn nhĩ là màng mỏng Schrapnelle, 2 dây chằng nhĩ búa (nếp búa trước và nếp búa sau) một mẩu con phình có màu trắng đó là mỏm ngắn của xương búa và một vật trắng đi chếch ra sau từ mỏm ngắn xương búa tới rốn nhĩ đó là cán của xương búa; còn ở dưới rốn nhĩ có một hình nón sáng hình tam giác, chỏm nón ở rốn nhĩ còn nền thì toả xuống và ra trước gọi là nón sáng Politzer (do ánh sáng phản chiếu trên một màng lõm nghiêng vào trong tạo nên). Nếu vạch một đường thẳng theo cán búa và một đường ngang vuông góc với đường này qua rốn nhĩ thì chia màng nhĩ ra làm 4 khu.
Hai khu dưới thường áp dụng được chọc dò màng nhĩ để dẫn lưu khi hòm tai có mủ (nhất là khu sau dưới), còn hai khu trên tương ứng với tầng trên của hòm tai có chuỗi xương con và liên quan với dây thần kinh mặt.


1. Bóng xương đe

2. Màng mỏng Schrapnell
3. Dây chằng màng nhĩ búa sau
4. Dây chằng màng nhĩ búa trước
5. Mỏm ngắn xương búa
6. Cán búa
7. Rốn màng nhĩ
8. Nón sáng
Hình 5.20.
Màng nhĩ (mặt ngoài)
2.2.2. Cấu tạo màng nhĩ

Là một màng sợi chun, dày khoảng 0,1mm và được cấu tạo bởi 4 lớp.
- Lớp da: liên tiếp với da ống tai ngoài
- Hai lớp sợi: lớp tia và lớp vòng, hai lớp này không có ở phần trùng.
- Lớp niêm mạc: liên tiếp với niêm mạc hòm tai.
2.2.3. Mạch máu và thần kinh

- Động mạch: màng nhĩ được cấp máu bởi động mạch tai sâu và động mạch nhĩ trước là nhánh của động mạch hàm trên; động mạch châm chùm là nhánh của động mạch tai sau.
- Tĩnh mạch: các tĩnh mạch màng nhĩ đổ vào tĩnh mạch cảnh ngoài, các tĩnh mạch sâu đổ vào xoang ngang và các tĩnh mạch màng cứng.
- Thần kinh: mặt ngoài có nhánh tai thái dương của thần kinh hàm dưới và nhánh tai của thần kinh X, mặt trong có nhánh thần kinh nhĩ của dây thiệt hầu.
2.3. Các cơ quan ở trong hòm tai

2.3.1. Chuỗi xương con

Có ba xương rất nhỏ khớp với nhau đi từ màng nhĩ tới cửa bầu dục của tai trong.
* Xương búa (malleus): nằm ở tầng trên hòm tai.
- Chỏm búa hình cầu, tiếp khớp với xương đe. Chỏm nối với cán búa ở cổ búa. Cổ xương liên quan với màng mỏng Schrapnell.

- Cán búa áp sát vào mặt trong màng nhĩ, đầu cán búa có cơ căng màng nhĩ bám vào. Cán búa nằm trong màng nhĩ (ở giữa niêm mạc và dây chằng) đầu cán thì dính vào rốn nhĩ.

- Mỏm ngoài ngắn, có dây chằng nhĩ búa bám vào.
- Mỏm trước dài, có dây chằng búa trước bám (đi từ trần hõm tai tới).
* Xương đe (incus): gồm có 3 phần:
- Thân đe khớp với chỏm xương búa.
- Ngành trên (trụ ngắn) nằm ngang ra sau.
- Ngành dưới (trụ dài) đứng thẳng ở sau cán xương búa, ở đầu ngành dưới có mỏm đậu khớp với xương bàn đạp.
* Xương bàn đạp (stapes)
- Chỏm bàn đạp khớp với mỏm đậu thuộc ngành thẳng xương đe.
- Trụ trước và trụ sau nối với nền bàn đạp.
- Nền bàn đạp nền lắp vào cửa bầu dục (cửa sổ tiền đình).
2.3.2. Các dây chằng

Ba xương trên khớp với nhau, xương búa khớp với xương đe (khớp lắp) xương đe với xương bàn đạp (khớp chỏm) và xương bàn đạp lắp vào cửa sổ tiền đình bởi khớp bán động nhĩ bàn đạp.
Các xương trên được ghìm với nhau bởi các dây chằng:


1. Thân xương đe

2. Ngành ngang xương đe
3. Cổ xương búa
4. Trụ dài xương đe
5. Nền xương bàn đạp
6. Trụ trước xương bàn đạp
7. Mỏm đậu xương bàn đạp
8. Cán búa
9. Mỏm trước xương búa
10. Mỏm ngoài xương búa
11. Chỏm búa
Hình 5.21.
Chuỗi xương con
- Dây chằng trên có hai dây: đi từ trần hòm tai tới xương búa (dây chằng búa trên) đi từ trần hòm tai tới thân xương đe (dây chằng đe trên).
- Dây chằng ngoài đi từ thành trước của trần hòm nhĩ tới chỏm và cổ xương búa.
- Dây chằng sau đi từ miệng lỗ thông hang tới ngành trên của xương đe (dây chằng đe sau).
- Dây chằng cố định xương bàn đạp vào cửa bầu dục bởi dây chằng vòng bàn đạp.


2.3.3. Các cơ vận động
Có hai cơ:
Cơ búa hay cơ căng màng nhĩ (m. tensor tympani): là một cơ hình thoi, nằm trong ống cơ búa ống này chạy song song với vòi nhĩ. Cơ búa bám vào gai bướm, vòi nhĩ và ống cơ búa rồi thoát ra ở mỏm thìa bởi

1. Dây chằng búa trên 4. Dây chằng đe sau
2. Dây chằng đe trên 5. Trụ dài xương đe
3. Chỏm búa 6. Cán búa, 7. Cơ búa
Hình 5.22.
Dây chằng của chuỗi xương con
một gân con, gân này quặt lại tới bám vào đầu trên cán búa và cổ xương búa, khi cơ co làm cho chỏm xương búa quay ra ngoài, cán búa vào trong, làm căng màng nhĩ, đồng thời khi chỏm xương búa quay ra ngoài kéo luôn cả thân xương đe ra ngoài làm cho ngành thẳng xương đe vào trong và đẩy xương bàn đạp ấn mạnh vào cửa bầu dục làm tăng áp lực của nội dịch.
Cơ búa là cơ nghe tiếng nhỏ và trầm, do một nhánh thần kinh chân bướm hay nhánh của dây thần kinh hàm dưới chi phối.
- Cơ bàn đạp (m. stapedius): là cơ nhỏ hình thoi, nằm trong một ống xẻ ở thành sau của hõm tai (ở trước của đoạn 3 cống fallov). Gân cơ thoát ra ở mỏm tháp rồi quặt lại tới bám vào chỏm xương bàn đạp, khi cơ co kéo chỏm xương bàn đạp về phía sau và vào trong đồng thời đẩy ngành thẳng xương đe ra ngoài, thân xương đe bị kéo theo vào trong, và kéo chỏm xương búa vào trong, cán búa quay ra ngoài làm chùng màng nhĩ.
Khi cơ bàn đạp co làm cho xương bàn đạp nghiêng đi và áp lực nội dịch của tai trong cũng giảm, cơ bàn đạp là cơ của tiếng bổng, tiếng to, là cơ có chống đỡ, bảo vệ cho thần kinh tiền đình ốc tai. Cơ bàn đạp do một nhánh của dây thần kinh mắt chi phối.


1. Ống cơ búa

2. Cơ búa
3. Xương bàn đạp
4. Cơ bàn đạp
5. Mỏm tháp
Hình 5.23.
Các cơ vận động chuỗi xương con
2.4. Hang chũm (autrum mastoideum)

Là một xoang lớn nhất ở trong xương chũm, thuộc vào tai giữa, vì thông với hòm nhĩ. Hang chùm có 6 thành:
- Thành trước: ở trên có lỗ đổ vào của đường vào hang, thông hang chùm với ngách thượng nhĩ của hòm nhĩ.
- Thành sau liên quan với xoang tĩnh mạch bên và thông với 1 số tế bào chùm.
- Thành trên hay mái của hang chũm liên quan với hố não sau.
- Thành dưới hay sàn hang chũm, có nhiều lỗ nhỏ thông với tế bào chùm.
- Thành trong: liên quan với ống bán khuyên sau.
- Thành ngoài: được tạo nên bởi phần sau ống tai ngoài của mặt ngoài xương thái dương. Thành dày 12-15mm.
Hình đối chiếu của hang chũm lên mặt ngoài mỏm chũm là một hình vuông, có diện tích lcm2 ở phía sau ống tai ngoài. Các cạnh như sau: cạnh trên là một đường ngang trước sau, cách bờ trên lỗ tai ngoài 4mm. Cạnh dưới là đường song song với cạnh trên. cách cạnh trên khám, cạnh trước là đường tiếp tuyến với bờ sau lỗ tai ngoài và vuông góc với cạnh trên. Cạnh sau song song với cạnh trước, ở phía sau cạnh trước khám. Trong mỏm chũm có nhiều hang nhỏ gọi là tế bào chũm. Khi bị viêm hang chùm dẫn đến bị viêm các tế bào chũm, mủ có thể làm thủng mỏm chũm chảy ra ngoài.


1. Xương đe

2. Tiền đình
3. Hòm tai
4. Óc tai
5. Vòi nhĩ
6. Tỵ hầu
Hình 5.24.
Vòi nhĩ
2.5. Vòi tai (mua auditiva) hay vòi nhĩ eustachi

2.5.1. Mô tả

Là một ống thông hòm tai với tỵ hầu, có tác dụng làm cân bằng áp lực của hòm tai với không khí bên ngoài nên có thể viêm nhiễm lan toả từ họng hầu vào tai giữa. Vòi tai bắt đầu từ lỗ nhĩ của vòi tai ở thành trước hòm tai, đi chếch xuống dưới vào trong ra trước, tận hết ở lỗ hầu vòi tai tại thành bên tỵ hầu, dài xấp xỉ 37 mm.
2.5.2. Cấu tạo

- Phần xương vòi tai chiếm 1/3 ngoài là một ống xương xẻ ở mặt dưới của xương đá. Nằm dưới ống cơ búa. Phía trong liên quan với động mạch cảnh trong. Phần xương nối với phần sụn bởi eo vòi.
- Phần sụn chiếm 2/3 trong là sụn sợi, có một đầu tiếp với phần xương, một đầu thông với hầu. Nằm trong rãnh vòi tai ở nền xương bướm. Phân sụn tận cùng ở lỗ hầu vòi tai nằm sau xương xoăn mũi dưới.
Vòi tai có 2 lỗ: lỗ nhĩ thông với thành trước hòm tai; lỗ hầu thông với thành bên tỵ hầu (giữa tuyến hạnh nhân vòi). Tác dụng của vòi nhĩ là làm cân bằng áp lực của hòm tai với tai ngoài.
- Niêm mạc phủ vòi tai liên tiếp với niêm mạc của hầu và ở quanh lỗ hầu có hạnh nhân vòi. Vòi tai có thể mở rộng hay khép là nhờ có một vài cơ của màn hầu có tác dụng giữ cho áp lực của hòm tai thăng bằng với áp lực ở bên ngoài. Vì có sự thông như vậy nên khi viêm mũi, viêm hầu điều trị không tốt sẽ gây ra biến chứng viêm tai giữa, viêm xoang chũm. Do đó bệnh học của tai luôn đi với bệnh học của mũi họng.
2.5.3. Mạch thần kinh vòi tai

- Động mạch: gồm có nhánh hầu lên và màng não giữa của động mạch cảnh ngoài.
- Tĩnh mạch: đám rối chân bướm của tĩnh mạch cảnh trong.
- Thần kinh: đám rối nhĩ của thần kinh thiệt hầu và các nhánh thần kinh chân bướm của dây thần kinh hàm dưới.
2.6. Niêm mạc hòm nhĩ

Niêm mạc hòm nhĩ phủ các thành hòm nhĩ, các xương tai, các cơ và các thần kinh nằm trong hòm nhĩ. Niêm mạc hòm nhĩ tạo nên lớp trong của màng nhĩ và liên tiếp với niêm mạc của hầu qua vòi tai, với niêm mạc của hang chùm và của các tế bào chùm qua đường vào hang.
Niêm mạc tạo nên các nếp mạch, căng từ các thành hòm nhĩ tới các xương tai, trong số đó có những nếp từ trần hòm nhĩ tới chỏm xương búa, tạo nên nếp búa trên, nếp búa sau, tủi thân xương đe tạo nên nếp đe, phủ xương bàn đạp tạo nên nếp bàn đạp, phủ thừng nhĩ tạo nên nếp thừng nhĩ.
Các nếp niêm mạc nói trên ngăn cách nhau và giới hạn nên các ngách màng nhĩ.
2.7. Mạch thần kinh hòm tai

2.7.1. Động mạch

- Động mạch hòm nhĩ trước nhánh của động mạch hàm trên cấp máu cho màng nhĩ.
- Động mạch trâm chùm, nhánh của động mạch tai sau, cấp máu cho phần sau hòm nhĩ và tế bào chùm.
- Nhánh đá của động mạch màng não giữa.
- Động mạch hòm nhĩ trên, nhánh của động mạch màng não giữa.
- Động mạch nhĩ dưới, nhánh của động mạch hầu lên.
- Nhánh động mạch ống chân bướm, thuộc động mạch hàm trên.
- Động mạch cảnh nhĩ, nhánh của động mạch cảnh trong.
2.7.2. Tĩnh mạch

Máu đổ về xoang tĩnh mạch đá trên và đám rối chân bướm.
2.7.3. Bạch huyết

Từ niêm mạc hòm nhĩ và hang chũm chạy tới hạch mang tai hay hạch cổ sâu trên.
2.7.4. Thần kinh

Là đám rối nhĩ của thần kinh thiệt hầu và đám rối động mạch cảnh trong thuộc hệ thần kinh giao cảm.
3. TAI TRONG (AURIS INTERNA)

Là bộ phận nhận cảm của tai nhưng rất phức tạp, tai trong nằm trong mê đạo nhĩ và gồm có 2 hệ thống:
- Một hệ thống gồm các túi, ống được cấu tạo bằng màng, hợp thành một hệ thống đóng kín không thông với bên ngoài gọi là mê nhĩ màng, trong lòng mê nhĩ màng chứa một chất dịch gọi là nội dịch.
- Một hệ thống gồm các hốc, rãnh được xẻ trong xương đá làm khuôn chứa đựng hệ thống trên gọi là mê nhĩ xương.
Mê nhĩ màng không hoàn toàn giống mê nhĩ xương, có tiết diện nhỏ hơn nên ở giữa mê nhĩ màng và mê nhĩ xương chúng còn cách nhau một khoang trong khoang này chứa một chất dịch gọi là ngoại dịch.
3.1. Mê nhĩ xương hay mê đạo xương

Có 3 phần: tiền đình xương, các ống bán khuyên xương và ốc tai xương.
3.1.1. Tiền đình xương
(vestibulum)
Là một hốc hình xoan, nằm ở phía trong hòm nhĩ, sau ốc tai và phía trước các ống bán khuyên xương. Tiền đình xương đứng thẳng với trục xương đá, có bề trước sau độ 5mm, bề dọc độ 4mm, bề ngang 3mm và có thể coi như một hình hộp có 6 mặt.
- Mặt ngoài: có cửa sổ bầu dục và cửa sổ tròn liên quan với hòm tai.
- Mặt trong: liên quan 1/3 sau đáy ống tai trong, có 3 ngách:
+
Ngách cầu ở phần trước mặt trong có cầu nang nằm.
+
Ngách bầu dục ở phía sau trên mặt trong có soan nang nằm.
+
Ngách ốc tai ở phần sau dưới mặt trong.
- Mặt trước: liên quan với đoạn 1 cống Fallope của thần kinh mặt ở dưới thông với tầng tiền đình của ốc tai bởi một lỗ hình bầu dục.
- Mặt sau và trên có các lỗ thông với ống bán khuyên.
- Mặt dưới: có một mảnh xương bịt lại đó là đầu của mảnh xoắn ốc.
3.1.2. Các ống bán khuyên xương
(canalis semicircularis ossei)
Các ống bán khuyên xương là những ống hình trụ, đường kính khoảng 0,8mm, cong hình móng ngựa, nằm ở mặt trên và sau của tiền đình và mở vào tiền đình bởi 2 đầu, gọi là các trụ xương.


1. Bán khuyên trước

2. Bóng xương trước
3. Ốc tai xương
4. Tiền đình xương
5. Cửa sổ bầu dục
6. Cửa sổ ốc tai
Hình 5.25.
Mê đạo xương
- Một đầu phình gọi là bóng xương. Trụ có bóng xương gọi là trụ bóng xương. Các bóng xương có cùng tên với các ống bán khuyên tương ứng.
- Đầu không phình của ống bán khuyên ngoài mở trực tiếp vào tiền đình, gọi là trụ xương đơn.
- Đầu không phình của ống bán khuyên trước và sau hợp lại với nhau rồi mở vào tiền đình, gọi là trụ xương chung.
Ba ống bán khuyên nằm theo 3 mặt phẳng thẳng góc với nhau.
- Ống bán khuyên trước (canalis semicircularis ossei) gài 15-20 mm, nằm trên mặt phẳng thẳng đứng, vuông góc với trục phần đá xương thái dương. Đầu ngoài là bóng xương trước, mở vào phần trên ngoài của tiền đình. Đầu đối diện tạo nên trụ xương chung cùng ống bán khuyên sau đổ vào phần trong tiền đình.
- Ống bán khuyên sau (canalis semicircularis posterior) dài 18-22 mm, nằm trên mặt phẳng thẳng đứng, song song với trục phần đá xương thái dương. Đầu dưới là bóng xương sau, mở vào phần dưới tiền đình. Đầu trên cùng với trụ xương của ống bán khuyên trước tạo nên trụ xương chung.
- Ống bán khuyên ngoài (canalis semicirculans lateralis) dài 12-15mm, nằm trên mặt phẳng nằm ngang và cong ra ngoài, bóng xương ngoài mở vào phía trên góc ngoài tiền đình, ngay dưới bóng trước, ở phía trên cửa sổ tiền đình. Đầu kia là trụ xương đơn mở vào tiền đình ngay dưới lỗ của trụ xương chung.
Tác dụng chung của các ống bán khuyên cho ta có ý niệm về chiều hướng vị trí trong không gian nên khi đau ở một ống bán khuyên nào sẽ làm ngả hay nghiêng đầu về phía ấy, khi cả 3 đường bị kích thích thì gây ra chóng mặt, cơ thể mất cân bằng.
3.1.3. Ốc tai xương
(cochlea)
Có hình con ốc, xoắn 2 vòng rưỡi, nằm ở phía trước tiền đình, có đáy ốc tai và đỉnh ốc. Từ đáy tới đỉnh dài 5mm và chiều ngang đáy là 9mm. Đỉnh hướng ra trước, ra ngoài. Một phần vòng đáy ốc tai đẩy thành trong hòm như lồi lên, tạo nên ụ nhô. Nhìn chung đáy ốc tai nằm đối diện với đáy ống tai trong. Về cấu tạo, ốc tai gồm có trụ ốc tai, ống xoắn ốc và mảnh xoắn xương.
- Trụ ốc: là một trục xương hình nón, trung tâm ốc tai đi từ đỉnh tới đáy ốc. Đáy trụ tương ứng với đáy ốc tai. Trong lòng trụ có những ống nhỏ chạy dọc để các sợi thần kinh ốc tai đi qua, gọi là các ống dọc của trụ ốc.
- Ống xoắn ốc: là một ống dài 30mm, đường kính giảm dần từ đáy cho tới đỉnh, quấn 2 vòng rưỡi quanh trụ ốc tai. Nơi tận hết của ống tạo nên đỉnh ốc tai. Vòng đáy của ống xoắn ốc có một phần nhô vào thành trong hòm nhĩ, tạo thành ụ nhô và có cửa sổ ốc tai thông với hòm nhĩ, có màng nhĩ phụ đậy. Vùng đáy của ống xoắn ốc thông với tiền đình xương và còn có một lỗ mở vào cống ốc tai, cống này dẫn tới một lỗ ở mặt dưới phần đá xương thái dương.
- Mảnh xoắn xương: là một mảnh xương mỏng nhô ra từ trụ ốc tai và quấn quanh trụ, theo một đường xoắn ốc (như đường gờ của đinh vít). Mảnh xoắn xương có 2 bờ, một bờ dính vào trụ ốc tai, một bờ tự do nhô vào trong lòng ống xoắn ốc chia dở chừng lòng ống thành 2 tầng: tầng tiền đình ở trên và tầng màng nhĩ ở dưới. Trên người sống, từ bờ tự do của mảnh xoắn xương tới thành ngoài ống xoắn ốc có màng nền ngăn cách tiếp phần còn lại giữa 2 tầng.
Bề rộng của mảnh xoắn xương cũng giảm dần từ đáy tới đỉnh ốc tai. Ở đỉnh ốc tai, mảnh xoắn ốc tận hết một mỏm hình móc, gọi là móc mảnh xoắn. Giữa đỉnh ống xoắn ốc và móc mảnh xoắn có một khe hở, gọi là khe xoáy ốc, qua đó tầng tiền đình thông với tầng màng nhĩ.
Dọc theo bờ tự do làm thành rãnh của mảnh xoắn xương có một loạt những lỗ rất nhỏ mở vào một loạt ống nhỏ chạy ngang qua bề dày của mảnh xoắn, từ bờ tự do đến bờ dính của mảnh, cho các sợi thần kinh ốc tai đi qua và liên tiếp với các ống dọc của trụ ốc. Dọc theo những điểm chuyển tiếp liên tiếp nhau giữa 2 hệ thống ống ngang và dọc, nghĩa là dọc theo bờ dính vào trụ ốc của mảnh xoắn ốc là một ống, gọi là ống xoắn trụ ốc, để cho các hạch xoắn ốc tai nằm trong.
3.2. Mê nhĩ màng (labyrinthus membranaceus)

Mê đạo màng là một hệ thống ống và túi màng chứa đầy nội dịch nằm trong mê đạo xương và nhỏ hơn mê đạo xương rất nhiều. Mê đạo màng bao gồm: mê đạo tiền đình và mê đạo ốc tai.
3.2.1. Mê đạo tiền đình
(labyrinthus vestibularis)
Gồm có: soan nang, cầu nang, là 2 túi màng nằm trong tiền đình, các ống bán khuyên màng nằm trong các ống bán khuyên xương và một hệ thống ống màng nhỏ khác.
Các ống bán khuyên màng mẽ vào soan nang, soan nang thông với cầu nang bởi ống soan cầu nang. Cầu nang nối với ống ốc tai qua ống nối, ống soan cầu nang lại đổ vào ống nội dịch, ống này tận hết bởi túi nội dịch.
* Soan nang
(utriculus): là một túi hình soan chiếm phần trên của tiền đình, nằm áp vào ngách bầu dục ở thành trong của tiền đình. Trên thành ngoài soan nang có vết soan nang, nhận các sợi soan nang của thần kinh tiền đình. Từ phần trước trong soan nang có một ống nhỏ, gọi là ống soan cầu nang, nối giữa soan nang và cầu nang rồi đổ vào ống nội dịch. Các ống bán khuyên đổ vào soan nang bởi 5 lỗ.
* Cầu nang (sacculus): là một túi nhỏ hơn soạn nang, hình cầu, ở phía trước soan nang và nằm trong ngách cầu ở thành trong tiền đình xương. Trên thành trước cầu nang có vết cầu nang, nhận các sợi cầu nang của thần kinh tiền đình ốc tai. Từ phần sau của cầu nang cũng tách ra một ống soan cầu nang đổ vào ống nội dịch.
* Các ống bán khuyên màng (ductus semicirculares): là những ống màng nhỏ, nằm trong các ống bán khuyên xương, nhưng đường kính chỉ bằng 1/4 đường kính ống bán khuyên xương. Có 3 ống bán khuyên màng tương ứng với 3 ống bán khuyên xương và mang cùng tên: ống bán khuyên trước, ống bán khuyên sau và ống bán khuyên ngoài.
Mỗi ống bán khuyên màng có 2 đầu mở vào soan nang, gọi là các trụ màng.


1. Bán khuyên trên 2. Dây ốc tai

3. Soan nang 4. Cầu nang
5. Bán khuyên màng
Hình 5.26.
Mê đạo màng
Cũng như ống bán khuyên xương, trụ không phình của ống bán khuyên ngoài đổ vào soan nang, gọi là trụ màng đơn. Trụ màng không phình của 2 ống bán khuyên trước và sau hợp lại để đổ vào soan nang, gọi là trụ màng chung. Trụ phình tạo nên các bóng, gọi là trụ màng bóng: có 3 bóng màng của 3 ống bán khuyên màng: bóng màng trước, bóng màng sau và bóng màng ngoài.
* Các ống của tiền đình màng:
- Ống soan cầu nang: là một ống màng nhỏ, nối soan nang với cầu nang và thông với ống nội dịch.
- Ống nội dịch: liên tiếp với ống soan cầu nang, chạy qua cống tiền đình ở trong xương đá và tận hết ở túi nội dịch.
- Túi nội dịch: là một túi màng, phình ra ở nơi tận hết của ống nội dịch, nằm dưới màng não cứng, trên mặt sau của phần đá xương thái dương.
- Ống nối là một ống màng nhỏ, ngắn, nối giữa phần dưới cầu nang và đáy của ốc tai màng.
3.2.2. Mê đạo ốc tai
(labyrinthus cochlearis)
Là một ống màng, dài 32cm, nằm trong ống xoắn ốc xương, dọc theo khoảng giữa thành ngoài của ống này và bờ tự do của mảnh xoắn xương. Ống ốc tai màng cũng xoắn 2 vòng rưỡi như ống xoắn ốc xương, bên trong có chứa nội dịch và cùng với mảnh xoắn xương tạo thành một vách kín, chia khoang ngoại dịch ở trong ống xoắn ốc xương thành 2 tầng: tầng tiền đình và tầng màng nhĩ. Trên thiết đồ cắt ngang của ống ốc tai màng có hình tam giác, với 3 thành: thành màng nhĩ, thành tiền đình và thành ngoài.
* Thành màng nhĩ của ống ốc tai: chủ yếu là mảnh nền hay màng nền, được cấu tạo bởi những thớ sợi căng từ bờ tự do của mảnh xoắn xương tới thành ngoài ống xoắn ốc.
Nằm trên mảnh nền là một loạt các cấu trúc thượng mô dày lên biệt hoá cao độ, tạo nên cơ quan xoắn ốc (cơ quan Corti), nơi nhận cảm thính giác của các sợi thần kinh ốc tai.
* Thành ngoài của ống ốc tai: được tạo nên bởi phần dày lên của màng xương ở thành ngoài của ống xoắn ốc, gọi là mào xoắn hay dây chằng xoắn. Phần mào xoắn lồi vào bên trong ống xoắn ốc ở bờ ngoài mảnh nền, gọi là mào nền cho màng nền bám.
* Thành tiền đình của ốc tai: được tạo nên bởi 1 màng mỏng đi từ màng xương phủ mảnh xoắn xương tới thành ngoài của ống xoắn ốc, gọi là màng tiền đình.
3.3. Nội dịch, ngoại dịch và cơ chế nghe
3.3.1. Nội dịch

Mê nhĩ màng chứa một chất dịch lỏng gọi là nội dịch. Đó là một chất dịch tương tự như chất dịch trong tế bào nhưng ít protein hơn. Nội dịch được tiết ra từ mào xoắn.
3.3.2. Ngoại dịch

Mê nhĩ màng nằm trong khoang ngoại dịch, là một khoang được giới hạn bởi các thành xương và các mê nhĩ xương. Khoang ngoại dịch chứa ngoại dịch. Ngoại dịch có thành phần giống nước não tuỷ, nhưng có nhiều protein hơn nước não tuỷ. Như vậy mê đạo màng được ngâm trong ngoại dịch và chứa chất nội dịch.
Khoang ngoại dịch của ống xoắn ốc được mảnh xoắn xương và ống ốc tai màng chia thành 2 tầng: tầng trên là tầng tiền đình, tầng dưới là tầng màng nhĩ, hai tầng này thông với nhau ở đỉnh ốc tai qua khe xoắn ốc ở đỉnh ống xoắn ốc. Tầng màng nhĩ được ngăn cách với hòm nhĩ bởi màng nhĩ phụ, nhưng lại thông với khoang dưới nhện qua cống ốc tai.
3.3.3. Cơ chế nghe

* Đường khí đạo: nhận cảm âm thanh là do kích thích các tế bào có lông của cơ quan xoắn ốc, nằm ở màng nền của ống ốc tai màng. Sóng âm từ không khí qua loa tai và ống tai ngoài, tới màng nhĩ được chuyển thành rung động cơ học, truyền qua chuỗi xương con tới cửa sổ tiền đình.
Những rung động truyền vào ngoại dịch do chuyển động của xương bàn đạp ở cửa sổ tiền đình lan toả qua tầng tiền đình tới đỉnh ốc tai, rồi qua khe xoắn ốc tới ngoại dịch ở tầng màng nhĩ, và được cân bằng bởi những rung động bù trừ của màng nhĩ phụ ở cửa sổ ốc tai. Kích thích theo vùng các tế bào có lông của cơ quan xoắn là kết quả chuyển động sóng của ngoại dịch, dẫn đến thụ cảm âm thanh và truyền theo các sợi thần kinh ốc tai lên não.
* Đường cốt đạo: sóng âm từ không khí đập trực tiếp vào da đầu rồi truyền xung động vào xương làm chuyển động chuỗi xương con... (quá trình diễn biến như trên).

3.4. Mạch, thần kinh của tai trong

3.4.1. Mạch của tai trong

- Động mạch: động mạch mê đạo là nhánh của động mạch tiểu não trước dưới thuộc động mạch nền. Động mạch chia thành 2 nhánh:
+
Nhánh ốc tai chia thành 12 - 14 nhánh nhỏ chạy theo các ống ở trong trụ ốc, cấp máu cho trụ, mảnh xoắn xương và mảnh nền. Các nhánh nhỏ này tạo nên cuộn tiểu động mạch ốc tai.
+
Nhánh tiền đình cấp máu cho soan nang, cầu nang và các ống bán khuyên.
- Tĩnh mạch: các nhánh tiền đình đi kèm động mạch và nhận tĩnh mạch xoắn trụ ốc ở nền trụ ốc, tạo nên các tĩnh mạch mê đạo, các tĩnh mạch mê đạo tận hết ở phần sau xoang tĩnh mạch đá trên hoặc trong xoang ngang.
3.4.2. Thần kinh

Thần kinh tiền đình ốc tai đi vào ống tai trong thì phân chia thành 2 nhánh chính: phần ốc tai đi đến cơ quan xoắn ốc, đảm nhận chức năng nghe. Phần tiền đình vào các ống bán khuyên, soan nang và cầu nang, đảm nhận chức năng thăng bằng.
3.4. Ống tai trong

Là một ống xương đào ở trong phần đá xương thái dương, hướng từ sau ra trước, từ trong ra ngoài, dài trung bình lcm, đường kính 5mm. Trong ống có thần kinh tiền đình ốc tai và thần kinh mặt.
Ống mở ra mặt sau phần đá xương thái dương bởi một lỗ, gọi là lỗ tai trong. Phần tận của ống tai trong ở phần đá, gọi là đáy ống tai trong.
Trên đáy ống có mào ngang, chia đáy ống thành 2 tầng:
- Tầng trên gồm 2 khu: khu trước là diện thần kinh mặt, có lỗ ống thần kinh mặt để các sợi thần kinh mặt chui qua. Phần sau là diện tiền đình trên có các sợi từ soan nang và ống bán khuyên của thần kinh tiền đình ốc tai đi qua.
- Tầng dưới: khu sau là diện tiền đình dưới, có các sợi từ cầu nang của thần kinh tiền đình ốc tai đi qua. Khu trước là diện ốc tai tương ứng với đáy trụ ốc tai, có dải lỗ xoăn ốc đế các sợi của thần kinh ốc tai đi qua.

Submit "Giải phẫu tai" to Digg Submit "Giải phẫu tai" to del.icio.us Submit "Giải phẫu tai" to StumbleUpon Submit "Giải phẫu tai" to Google Submit "Giải phẫu tai" to Facebook Submit "Giải phẫu tai" to Twitter Submit "Giải phẫu tai" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Giải phẫu

Bình luận