Giải phẫu các tuyến nước bọt - Bài viết - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "Có bệnh xem xét đã rồi mới cho thuốc, vì ngại đêm mưa vất vả không chịu thǎm mà đã cho phương, đó là tội lười. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

QuocBaoNet

Giải phẫu các tuyến nước bọt

Cho điểm
CÁC TUYẾN NƯỚC BỌT
Bài giảng Giải phẫu học
Chủ biên: TS. Trịnh Xuân Đàn
Có nhiều tuyến nước bọt đổ vào miệng, nằm rải rác khắp niêm mạc của miệng. Trong đó có 3 đôi tuyến lớn là tuyến nước bọt mang tai, tuyến nước bọt dưới hàm và tuyến nước bọt dưới lưỡi.
Về chế tiết, các tuyến nước bọt chia làm 3 loại tuyến:
- Tuyến nước: tuyến nước bọt mang tai
- Tuyến nhầy: tuyến nước bọt dưới lưỡi
- Tuyến hỗn hợp: tuyến nước bọt dưới hàm.
1. TUYẾN MANG TAI (GLANDULA PAROITIDEA)

1.1. Vị trí, kích thước

Là tuyến nước bọt lớn nhất, nặng từ 25 - 26g, nằm phía dưới ống tai ngoài, giữa ngành lên của xương hàm dưới và cơ ức đòn chũm. Được bọc trong mạc tuyến mang tai (do mạc cổ nông tạo nên).
1.2. Hình thể ngoài và liên quan

Tuyến hình tháp có 3 mặt, 3 bờ và 2 cực.
- Mặt ngoài: chỉ có da và mạc nông che phủ, trong tổ chức dưới da có các nhánh mặt của thần kinh tai lớn và các hạch bạch huyết nông. Mặt này tuyến nằm rất nông nên khi tuyến bị viêm sưng trông rất rõ (trong bệnh quai bị).

1. TM thái dương nông
2. Tuyến nước bọt mang tai
3. Ống Sténon
4. Cơ cắn
5. Nhánh TK số VII
6. Cơ ức đòn chũm
7. Tuyến nước bọt dưới hàm
8. Thân TM giáp rưỡi mặt
9. Tuyến nước bọt dưới rưỡi
10. TK dưới lưỡi
Hình 4.55.
Các tuyến nước bọt
- Mặt trước: áp vào bờ sau ngành lên của xương hàm dưới và cơ cắn, cơ
chân bướm trong và dây chằng chân bướm hàm. Mặt này tuyến còn liên quan với bó mạch hàm trên và dây thần kinh tai thái dương ở ngang mức khuyết cổ xương hàm dưới.
- Mặt sau: liên quan với mỏm chũm, giáp với bờ trước cơ ức đòn chũm, bụng sau cơ hai bụng, mỏm trâm và các cơ trâm. Động mạch cảnh ngoài sau khi lách qua khe giữa cơ trâm lưỡi và cơ trâm móng, nằm ép và đào thành rãnh vào mặt này rồi chui vào trong tuyến, động mạch và tĩnh mạch cảnh trong ở trong và sau hơn ngăn cách với tuyến bởi mỏm trâm và các cơ trâm; thần kinh mặt từ lỗ trâm chăm đi xuống cũng chui vào trong tuyến ở phần sau trên của mặt này.
- Bờ trước: có ống tuyến mang tai thoát ra (ống Sténon). Ở trên ống tuyến đôi khi gặp tuyến mang tai phụ (có trong khoảng 20% các trường hợp); các nhánh của dây thần kinh mặt và động mạch ngang mặt thoát ra khỏi tuyến dọc bờ này.
- Bờ sau: nằm dọc theo tai ngoài, mỏm chũm và bờ trước cơ ức đòn chũm.
- Bờ trong: là nơi giao tiếp giữa mặt trước và mặt sau, nằm dọc dây chằng trâm hàm dưới.
- Cực trên: nằm giữa khớp thái dương hàm (ở trước) và ống tai ngoài (ở
sau; liên quan với bó mạch thái dương nông và dây thần kinh tai thái dương.
- Cực dưới: nằm giữa cơ ức đòn chũm và góc hàm dưới, liên quan ở
trong với tĩnh mạch, động mạch cánh trong và dây thần kinh dưới lưỡi.
1.2. Các thành phần nằm ở trong tuyến

Gồm các mạch máu, thần kinh lách giữa các thuỳ của tuyến và lần lượt từ sâu ra nông gồm có: động mạch cảnh ngoài với 2 ngành cùng là động mạch thái dương nông và động mạch hàm (hàm trên); nông hơn có tĩnh mạch sau hàm dưới được tạo nên bởi tĩnh mạch thái dương nông, tĩnh mạch hàm (tĩnh mạch hàm trên) và nằm ở nông nhất là dây thần kinh mặt. Thần kinh mặt chui vào tuyến ở phần sau trên rồi chạy ra trước và xuống dưới phân chia trong tuyến và thoát ra ở bờ trước tuyến, phân chia tuyến ra làm hai phần: phần nông và phần sâu.
1.3. Ống tuyến mang tai

Ống tuyến được tạo nên do sự hợp nhất của 2 ngành chính trong phần
trước tuyến thoát ra thoát ra khỏi tuyến ở bờ trước. ống chạy bắt chéo qua mặt ngoài cơ cắn, uốn cong theo bờ trước cơ này vòng qua cục mỡ Bichat ở má, xuyên qua 2 bó cơ mút để đổ vào trong khoang tiền đình miệng ở mặt trong của má bằng 1 lỗ nhỏ đối diện với thân hàm lớn thứ II hàm trên.
Ống Sténon dài 5cm, đường định hướng của ống là đường kẻ từ bình nhĩ tới giữa đường nối cánh mũi và mép. Có thể di chuyển đưa ông lên mắt để chữa bệnh khô giác mạc. Mốc để tìm ống ở má là giao điểm của 2 đường vạch: một đường từ dái tai tới cánh mũi và một đường từ bình nhĩ tới mép.
2. TUYẾN DƯỚI HÀM (GLANDULA SUBMANDIBULARIS)

Là tuyến lớn thứ hai, nặng từ 10-20 gam nằm trong tam giác dưới hàm ở mặt trong xương hàm dưới. Tuyến có 2 phần nông và sâu nối với nhau ở bờ sau cơ hàm móng và được ngăn cách với tuyến mang tai bởi một vách cân (đi từ cơ ức đòn chồm tới quai hàm).
2.1. Hình thể, liên quan

- Phần nông của tuyến chiếm phần lớn tuyến, nằm trong tam giác dưới hàm và có 3 mặt và 2 đầu (đầu trên và dưới)
+
Mặt trên ngoài nằm áp sát vào mặt trong xương hàm dưới, có động mạch mặt đào thành rãnh ở phần sau trên của mặt này.
+
Mặt dưới ngoài hay mặt nông được phủ bởi da, tổ chức dưới da và cân cổ nông che phủ.
+
Mặt trong hay mặt sâu của tuyến áp sát với các cơ vùng trên móng (bụng sau cơ hai bụng, cơ hàm món, cơ trâm móng và cơ móng lưỡi) liên quan tới dây thần kinh dưới lưỡi, động mạch mặt ở mặt sâu của tuyến, khi tới đầu trên tuyến thì động mạch quặt đi ra ngoài xuống bờ dưới của xương hàm gặp tĩnh mạch mặt chạy ở mặt ngoài của tuyến rồi cả hai cùng đi lên má.
Phần sâu tuyến là một mỏm hình lưới kéo dài ra trước bởi ống tuyến, dưới liên quan với thần kinh dưới lưỡi và hạch dưới hàm.
2.2. ống tuyến dưới hàm hay ống Wharton

Là ống tiết của tuyến dưới hàm thoát ra ở mặt trong mỏm sâu của tuyến, dài 5cm, chạy ra trước lên trên bắt chéo dây thần kinh lưỡi (thần kinh đi dưới ống), rồi lách giữa cơ hàm móng và tuyến dưới lưỡi đổ vào nền miệng bởi một lỗ nhỏ nằm ở hai bên bên hãm lưỡi, ở đỉnh cục dưới lưỡi.
2.3. Mạc tuyến

Ngoài bao mạc riêng tuyến còn có một bao mạc mỏng bao bọc tách ra từ
mạc cổ nông.
3. TUYẾN DƯỚI LƯỠI (GLANDULA SUBLINGUALIS)

Tuyến dưới lưỡi là tuyến nhỏ nhất trong 3 đôi tuyến, là tuyến tiết nhầy nặng 3-4 gam, nằm trong ô dưới lưỡi (giữa cơ hàm móng và cơ móng lưu trên mặt trong xương hàm dưới) chỉ được phủ bởi lớp niêm mạc của nền miệng. Bờ trên của tuyến đội niêm mạc lên thành nếp dưới lưỡi và có các ống tiết của tuyến đổ vào. Bờ dưới tựa vào cơ hàm móng. Mặt trong tiếp với cơ cầm móng, cơ móng lưỡi và thần kinh lưỡi.
Tuyến có từ 5-15 ống tiết nhỏ (ống Rivinus) đổ trực tiếp vào nếp dưới lưỡi. Một ống tiết lớn (ống Whater) đổ vào miệng ở cục dưới lưỡi.
Có nhiều tuyến nước bọt đổ vào miệng, nằm rải rác khắp niêm mạc của miệng. Trong đó có 3 đôi tuyến lớn là tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi.
Về chế tiết, chia làm 3 loại tuyến:
- Tuyến nước: tuyến mang tai
- Tuyến nhầy: tuyến dưới lưỡi
- Tuyến hỗn hợp: tuyến dưới hàm.

Submit "Giải phẫu các tuyến nước bọt" to Digg Submit "Giải phẫu các tuyến nước bọt" to del.icio.us Submit "Giải phẫu các tuyến nước bọt" to StumbleUpon Submit "Giải phẫu các tuyến nước bọt" to Google Submit "Giải phẫu các tuyến nước bọt" to Facebook Submit "Giải phẫu các tuyến nước bọt" to Twitter Submit "Giải phẫu các tuyến nước bọt" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Giải phẫu

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook