Đại cương hệ vận động - Bài viết - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "An ủi lớn nhất của đời người là làm phước. [Trích 14 điều răn của Phật] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

QuocBaoNet

Đại cương hệ vận động

Cho điểm
ĐẠI CƯƠNG HỆ VẬN ĐỘNG
Bài giảng Giải phẫu học
Chủ biên: TS. Trịnh Xuân Đàn
Đặc điểm phân biệt giữa động vật và thực vật là sự thích ứng của động vật với môi trường nhờ sự vận động. Sinh vật có 3 loại vận động: - Vận động kiểu Amib nhờ chất nguyên sinh: ví dụ như bạch cầu.
- Vận động nhờ lông chuyển: ví dụ như thảo trùng, biểu mô.
- Vận động nhờ sự co thắt cơ vân, ở đại đa số các động vật và ở con người, làm cơ thể chuyển động trong không gian, và của cơ trơn làm các tạng vận động và các mạch máu chuyển máu trong cơ thể.
Bộ máy vận động gồm có hai phần:
- Phần thụ động gồm bộ xương và hệ liên kết các xương (khớp xương).
- Phần vận động các cơ.
1. HỆ XƯƠNG
1.1. Chức năng và vị trí
Xương là yếu tố cứng rắn, nằm giữa các phần mềm của cơ thể và có 3 nhiệm vụ chính.
1.1.1. Nhiệm vụ bảo vệ
Ở động vật cấp thấp, xương bọc ở bên ngoài (tôm, cua) động vật có xương sống
và người thì xương ở bên trong, do đó cơ
thể có kích thước to lớn như hiện nay. Các xương hợp lại thành bộ xương. Một số xương tạo thành một hộp (hộp sọ), một ống (ống tuỷ) một khoang (lồng ngực chứa tim phổi và chậu hông chứa các tạng niệu dục).
1.1.2. Nhiệm vụ nâng đỡ
1. Xương hộp sọ
2. Màng não và não
3. ĐM màng não giữa
Hình 1.2.
Hộp sọ và não bộ Bộ xương là trụ cột của cơ thể, xung quanh là các phần mềm, là chỗ bám của phần mềm tạo lên hình dáng cơ thể, phản ánh đặc trưng hình thể và đặc tính của từng loài.
1.1.3. Nhiệm vụ vận động
Các xương tiếp khớp với nhau và là nơi bám của phần lớn các cơ, là cha dựa cho cơ thể hoạt động, xương như một đòn
bẩy, đóng vai trò thụ động trong bộ máy vận động, khi bị kích thích, cơ co lại hay duỗi ra làm xương chuyển động cơ thể chuyển động theo để đáp ứng một nhu cầu cần thiết.
1.1.4. Các chức năng khác
Tuỷ xương là nơi tạo huyết, sản sinh huyết cầu. Xương cũng là kho dự trữ chất khoáng như Fe++ Ca++ mà khi cần cơ thể có thể huy động
lấy ra
1.2. Thành phần và số lượng bộ xương
Cơ thể có tổng số 206 - 208 xương, phần lớn là các xương chẵn và được chia làm 2 phần chính:
1.2.1. Bộ xương trục (81 xương)
1. Gân cơ (nguyên uỷ) 3. Xương quay
2. Gân cơ (bám tận) 4. Thân cơ


Hình 1.3. Sự vận động của xương
- Gồm 22 xương đầu mặt, 1 xương móng và 3 đôi xương nhỏ của tai (tổng số 29 xương). Các xương đầu mặt chia làm 2 phần: phần sọ não (sọ thần kinh) có 8 xương tạo thành hộp sọ và phần sọ mặt (sọ tạng) có 14 xương tạo
nên khối xương sọ mặt.
1. Xương đỉnh
2. Xương chẩm
3. Xương thái dương
4. Xương hàm dưới
5. Xương hàm trên
6. Xương gò má
7. Xương lệ
8. Xương mũi
9. Xương bướm
10. Xương trán

Hình 1.4.
Xương đầu mặt
- Xương thân mình gồm có 26 xương đốt sống, 1 xương ức và 12 đôi xương sườn (tổng số 51 xương).
Các xương đốt sống hợp với nhau tạo thành cột sống, kéo dài từ nền sọ đến xương cụt và được chia thành 5 đoạn:
Đoạn cổ có 7 đốt sống cong lõm ra sau. Đoạn ngực có 12 đốt cong lõm ra trước. Đoạn thắt lưng có 5 đốt cong lõm ra sau. A. Đoạn đất sống cổ
B. Đoạn đốt sống ngực
C. Đoạn đốt sống thắt lưng
D. Đoạn đốt sống cùng
E. Đoạn đốt sống cụt
Hình 1.5. Cột sống (nhìn thẳng và nghiêng)
Đoạn cùng có 5 đốt sống dính liền thành 1 khối cong lõm ra trước.
Đoạn cụt có 3 - 5 đất sống thoái hóa chỉ để lại di tích dính vào nhau và dính vào đỉnh xương cùng.
- Xương sườn: có 12 đôi
- Xương ức: có một xương gồm cán, thân và mũi ức
- Khung chậu
1.2.2. Bộ xương treo hay xương chi (126 Xương)
A. Xương chi trên
1. Xương trụ
2. Xương quay
3. Các xương cổ tay
4. Xương bàn tay
5. Xương ngón tay
6. Xương cánh tay
7. Xương bả vai
8. Xương đòn
B. Xương chi dưới
1. Xương chậu
2. Xương đùi
3. Xương bánh chè
4. Xương chày
5. Xương mác
6. Các xương cổ chân

Hình 1.6.
Hệ thống xương chi trên (A) và xương chi dưới (B)
Chi trên gồm 64 xương, dính vào thân bởi đai vai. Chi dưới gồm có 62 xương, dính vào thân bởi đai hông.
1.3. Hình thể của xương
1.3.1. Phân loại xương
Dựa vào hình thể và chức năng, có thể chia xương làm 4 loại:
- Xương dài: ở chi gồm có thân xương và 2 đầu xương.
- Xương ngắn: ở cổ tay, bàn chân, ngón, và đốt sống.
- Xương dẹt: ở hộp sọ, xương bả vai, xương ức, xương chậu.
- Xương không đều hay bất định hình: xương thái dương, xương sàng... Ngoài ra còn có 1 loại xương vừng, là xương nhỏ nằm trong gân cơ và
thường đệm vào các khớp để giảm độ ma sát của gân giúp cơ hoạt động tốt hơn.
1.3.2. Mô tả hình thể ngoài của xương
Mỗi xương được mô tả một cách khác nhau tuỳ theo hình thể ngoài của
nó.
Ví dụ:
* Xương dài (trước khi mô tả phải định hướng xương)
- Đầu xương: là nơi tiếp khớp với xương khác, thường là chỏm hình cầu hay phẳng, có nhiều chỗ lồi chỗ lõm và chia làm hai loại: tiếp khớp và không tiếp khớp.
Diện khớp: lõm như ổ chảo, lồi như lồi cầu, ròng rọc...
Diện không khớp: có tên gọi khác nhau như lồi củ, lồi cầu, gai. Mặt: có các chỗ bám của cơ hay cơ đi qua.
- Cổ xương: là nơi nối tiếp giữa đầu và thân xương.
- Thân xương: hình lăng trụ tam giác có các mặt các bờ. Mặt xương có thể nhẵn có thể gồ ghề để cho gân cơ bám hay mạch thần kinh đi qua.
* Xương dẹt
Mô tả các mặt của xương, các bờ và các góc.
1.4. Hình thể trong và cấu trúc
Có thể quan sát bằng mắt thường (cấu tạo đại thể) và bằng kính hiển vi hay kính lúp (cấu tạo vi thể).
1.4.1. Cấu tạo đại thể
Có những phần chung và phần riêng cho mỗi xương hay mỗi loại xương. Nếu cưa dọc hay cưa ngang một xương ta thấy:
- Lớp xương đặc: ở ngoài, là một lớp xương mịn rắn chắc mầu vàng nhạt.
- xương xốp: ở trong gồm các bè xương bắt chéo nhau chằng chịt, để hở
những hốc nhỏ trông như bọt biển.
Ngoài ra ở xương tươi còn thấy rõ:
- Ở ngoài cùng bọc lấy xương đặc còn một lớp màng ngoài (ngoại cốt mạc) là một màng liên kết mỏng, chắc dính chặt vào xương. Lớp trong của cốt mạc mang nhiều mạch máu và thần kinh đến nuôi xương và có nhiều tế bào trẻ (cốt bào) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển xương theo bề ngang.
- Ở trong cùng, bên trong lớp xương xốp là tuỷ xương. Có 2 loại tuỷ
xương:
+ Tuỷ đỏ là nơi tạo huyết, có ở trong các hốc xương xốp (có ở toàn bộ các xương của thai nhi và trẻ sơ sinh và riêng các phần xương xốp của người lớn).
+ Tuỷ vàng chứa nhiều tế bào mỡ, chỉ có ở các ống tuỷ ở thân xương dài người lớn, bên trong cùng lớp xương xốp.
* Đặc điểm cấu tạo riêng của mỗi loại xương
- Xương dài: hai đầu xương, lớp xương đặc chỉ là một lớp mỏng bao bọc ở ngoài và bên trong là cả khối xương xốp chứa đầy tuỷ đỏ. Thân xương, lớp đặc ở ngoài làm thành một ống xương dày ở giữa và mỏng dần ở 2 đầu; lớp xương xốp ở trong thì ngược lại dầy ở 2 đầu, mỏng ở giữa; trong cùng là một ống tuỷ dài chứa đầy tuỷ vàng.
- Xương ngắn: cấu trúc cũng tương tự như đầu xương dài: gồm một khối xương xốp ở trong bọc bởi một vỏ mỏng xương đặc ở ngoài.
- Xương dẹt: hợp bởi 2 bản xương đặc kẹp ở giữa một lớp xương xốp. Có chỗ xương mỏng, 2 bản xương đặc dính sát vào nhau và không còn lớp xương xốp nữa.
- Ở các xương sọ: bản ngoài rất chắc, bản trong giòn và dễ vỡ, lớp xương xốp ở giữa có tên riêng là lõi xốp.
* Ý nghĩa cấu tạo của các xương
Cấu tạo hình ống của xương đặc trong thân xương dài cũng như cách sắp xếp các bè xương trong xương xốp đều có tác dụng làm nhẹ bớt trọng lượng, giảm số lượng vật chất cần thiết cho cấu trúc xương, đồng thời làm tăng sức chống đỡ của xương đối với sức ép, sức kéo và sức gẫy.
Các bè xương bao giờ cũng sắp xếp theo chiều hướng nhất định, thích nghi với chức năng của mỗi xương làm cho xương có độ chắc cao nhất.
Như vậy, kiến trúc của xương phù hợp với chức năng riêng của nó và phù hợp với những quy luật chung của ngành kiến trúc xây dựng, theo chung nguyên tắc “với trọng lượng và số lượng vật chất tối thiểu, đảm bảo độ vững chắc tối đa”.
1.4.2. Cấu tạo vi thể
Xương là một mô liên kết trong đó các tế bào đã biến thành cốt bào sắp xếp theo những khoảng cách đều đặn và trong đó có lắng đọng những chất vô cơ, chủ yếu là muối calci (phosphat calci và hydroxyd calci) bao bọc và che phủ các sợi keo.
Về cơ bản mô xương gồm những lá mỏng được tạo nên bởi hỗn hợp
những chất vô cơ và hữu cơ và những vùng dày hơn được tạo thành bởi sự
hình thành những lá cộng thêm chồng chất lên những lá trước.
Khác với sụn, xương chứa các mạch máu phân bố đều đặn. Trong quá trình phát triển các mạch máu bị vây quanh bởi các lớp xương tân tạo và tạo thành những ống xương hay ống havers. Những ống đó chạy chủ yếu theo chiều dọc trong xương dài, và các lá xương được tạo thành xung quanh một hệ thống các ống phân nhánh và nối tiếp với nhau.
1.5. Các mạch máu của xương
1.5.1. Mạch nuôi xương
Mạch nuôi xương hay mạch dưỡng cốt chui vào xương qua lỗ nuôi xương chạy trong một ống xiên chếch tới ống tuỷ. Trong tuỷ xương động mạch chia thành 2 nhánh ngược nhau chạy dọc theo chiều dài của ống tuỷ và phân nhỏ dần nuôi xương. Các nhánh này chui vào trong ống havers và nối tiếp với nhánh màng xương.
1.5.2. Mạch màng xương
Mạch cốt mạc ở quanh thân xương và đầu xương (trừ diện khớp) có các mạch rất nhỏ qua cốt mạc tôi phần ngoài xương để nói với các nhánh nuôi xương chính từ trong ra.
1.6. Thành phần hoá học của xương
Sở dĩ xương đàn hồi và cứng rắn vì xương có các thành phần vô cơ và hữu cơ.
1.6.1. Xương tươi (người lớn)
Chứa 50% nước; 15,75% mỡ; 12,45% chất hữu cơ và 21,80% chất vô cơ.
1.6.2. Xương khô (đã loại bỏ mỡ và nước)
2/3 là chất vô cơ và 1/3 là chất hữu cơ.
Chất hữu cơ chiếm 23,30% chủ yếu là chất cốt giao gồm các sợi keo và các tế bào xương.
Chất vô cơ chiếm 66,70% chủ yếu là các muối vôi:

Phosphat Ca: 51,04% Fluorur Ca: 2,00%
Carbonat Ca: 11,30% Phosphat Mg:21,85%
Carbonat và Florur Ca: 1,20%
Các thành phần hoá học cũng thay đổi theo chức phận của mỗi xương, theo tuổi, giới, chế độ dinh dưỡng và bệnh tật. Đặc biệt một số vitamin A, D, C và một số bệnh nội tiết ảnh hưởng đến kiến trúc và cấu tạo hoá học của xương.
Ở người trẻ xương ít chất vô cơ nên mềm dẻo. Người già xương nhiều chất vô cơ nên giòn, dễ gẫy.
1.7. Sự hình thành và phát triển xương
1.7.1. Các giai đoạn hình thành và phát triển
- Trong phôi thai xương phát triển từ lớp trung bì và phát triển qua 3 giai đoạn: màng, sụn và xương (trừ xương vòm sọ và một vài xương mặt không qua giai đoạn sụn và một phần xương sườn cho đến già vẫn ở tình trạng sụn). Bộ xương màng ở người hình thành vào tháng thứ nhất của bào thai. Màng biến thành sụn vào đầu tháng thứ hai và được thay thế dần bằng xương ở cuối tháng này của phôi.
- Sau khi đẻ quá trình hoá xương còn tiếp tục cho đến khi hết lớn (khoảng 25 tuần và phát triển thành 2 giai đoạn: giai đoạn đầu từ lúc đẻ đến lúc dậy thì hệ xương phát triển mạnh hơn hệ cơ; giai đoạn 2 từ tuổi dậy thì về sau hệ xương phát triển chậm hơn hệ cơ.
1.7.2. Quy luật phát triển của xương
Quy luật tuổi dậy thì: trước tuổi dậy thì xương phát triển chiều dài, sau tuổi dậy thì xương phát triển chiều dầy.
- Quy luật dãn cách: có sự phát triển không đồng đều về chiều dài và độ dầy hoặc 2 xương gần nhau một phát triển, một tạm dừng, chúng thay đổi nhau.
- Quy luật tỷ lệ: tuổi nhỏ đến 6 tuổi: 4 - 6 cm/năm; 6 - 15 tuổi: 7cm/năm;
15 - 25 tuổi: dài > dầy.
- Quy luật bất đối xứng: hai xương như nhau (tay phải và trái) xương nào hoạt động nhiều thì phát triển nhiều hơn.
1.7.3. Sự cốt hoá
* Nguyên tắc chung của sự cốt hoá
- Có 2 cách hình thành xương:
+ Cốt hoá trực tiếp: chất căn bản của mô liên kết ngấm calci và biến thành mô xương. Đây là xương màng như xương sọ và phần lớn xương đầu mặt.
+ Cốt hoá nhờ sụn: do chất căn bản của mô liên kết ngấm cartilagen thành sụn. Sụn này tiêu đi để thay thế bằng mô liên kết non và dần biến thành xương (xương havers, xương sụn).
- Quá trình cốt hoá có 2 hiện tượng đối ngược nhưng luôn xảy ra song song: hiện tượng phá huỷ xương do huỷ cốt bào và hiện tượng tái tạo xương do tao cốt bào.
- Quá trình cốt hoá có 2 giai đoạn liên tiếp nhau: cốt hoá nguyên phát hay giai đoạn xây dựng xương và cốt hoá thứ phát hay giai đoạn sửa chữa xương.
* Cốt hoá trực tiếp
- Cốt hoá nguyên phát: xảy ra trong thời kỳ bào thai. Vào khoảng tuần thứ 9 của phôi, xương có dạng một màng liên kết, gồm tế bào trung mô và ít sợi tạo keo và bắt đầu có các trung tâm cốt hoá. Tại trung tâm cốt hoá các sợi nhiều lên đẩy trung mô ra xa. Tế bào trung mô dần hình thành tạo cốt bào. Màng xương thành mô dạng xương gồm có chất căn bản, sợi và tạo cốt bào, sau đó có hiện tượng ngấm vôi để tạo tế bào xương. Từ trung tâm cốt hoá, các bè xương lan ra mọi hướng thành một mạng xương và mô dạng xương thành mô xương. Mô xương tăng trưởng theo chiều rộng và chiều dầy, mặt ngoài mô xương thành màng xương. Các tạo cốt bào ở mặt trong màng xương tạo thành các lá xương xếp chồng lên nhau. Lá sâu nhất là lá xuất hiện sớm nhất.
- Cốt hoá thứ phát: xương vòm sọ khi mới sinh là một mô xương đặc đồng nhất, sau đó lớp giữa của vòm sọ bị phá huỷ thành những hốc nhỏ chứa tuỷ tạo huyết và hình thành xương havers xốp được bọc trong 2 bản xương ngoài và trong.
* Cốt hoá qua sụn
- Cốt hoá nguyên phát:
+ Ở thân xương: giai đoạn phôi thai xương chỉ là mô sụn được bọc bởi màng sụn. Màng sụn thành màng xương bao bọc quanh sụn trừ 2 đầu. Các mạch máu đến thân mang theo mô liên kết. Mô liên kết thành huỷ cất bào phá huỷ sụn thành tuỷ xương. Mạch máu tiến về 2 đầu thân xương làm hẹp sụn,
rộng dần tuỷ. Nơi giữa đầu và thân xương sẽ có vùng cốt hoá, sụn vùng này nhiễm calci thành xương. Trong khi đó màng xương tiếp tục đắp những lá xương làm thành xương dày lên.
+ Ở đầu xương: sự cốt hoá xảy ra muộn hơn, thường ở giai đoạn sau sinh. Bắt đầu từ việc mạch máu đến sụn mang theo huỷ cốt bào phá vỡ ổ sụn thành tuỷ xương. Phần sụn bao quanh tuỷ nhiễm calci thành xương. Giữa đầu và thân xương còn chừa lại một băng sụn gọi là sụn đầu xương hay sụn tiếp hợp và sẽ biến mất khi trưởng thành. Chỉ khi nào sụn đầu xương mất thì màng xương ở đầu xương mới bị cốt hoá.
- Cốt hoá thứ phát:
+ Sự cốt hoá ở thân xương nhằm tạo hệ xương havers. Trong khi màng xương tạo thành những lá xương ở mặt ngoài, thì từ tuỷ các mạch máu mang theo huỷ cốt bào đào nhiều đường hầm dọc theo thân xương và nối với nhau. Đồng thời tạo cốt bào đến tạo những lá xương đồng tâm làm hẹp lòng đường hầm lại thành các ống havers. Như vậy hệ thống havers được thành lập. Sau một thời gian, thân xương được cấu tạo bởi xương havers đặc. Chen vào giữa hệ thống toàn vẹn mới được thành lập là hệ thống havers được tạo ra từ trước và bị huỷ một phần (hệ thống havers trung gian). Khi nào tuỷ không to nữa thì tạo cốt bào của tuỷ mới tạo các lá xương của hệ thống cơ bản trong.
+ Ở đầu xương tuỷ tạo cốt trong ở các hốc xương trong sụn sẽ dần tạo ra các vách xương thành xương havers xốp.
.1.7.4. Các yêu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng xương
Ngoài yếu tố di truyền do bộ gen, sự cốt hoá và tăng trưởng xương chịu
ảnh hưởng bởi:
- Giai đoạn phát triển cơ thể: ở trẻ em hiện tương tái tạo mạnh hơn hiện tượng phá huỷ nên thành phần cấu tạo xương trẻ em khác người lớn. Xương trẻ em ít chất vô cơ, giầu chất hữu cơ hơn ở xương người lớn. Do vậy, gẫy xương trẻ em là loại gẫy do chấn thương nên rất dễ lành; trong khi người lớn tuổi xương giòn, dễ gẫy thường là gẫy bệnh, khó lành.
- Tình trạng mẹ Thiếu dinh dưỡng khi mang thai; ở trẻ đang lớn đặc biệt Thiếu calci, vitamin D sẽ ảnh hưởng đến sự cốt hoá và tăng trưởng. Các bệnh nội tiết như bệnh tuyến cận giáp làm ảnh hưởng đến sự hấp thu các muối khoáng cũng làm ảnh hưởng đến bộ xương.
- Khi vận động xương thường phải chịu tác động của một trong ba lực: lực kéo, lực ép và lực trượt do ma sát. Các lực này đều làm ảnh hưởng đến cấu tạo của hệ xương. Vì vậy tập luyện thân thể đúng cách sẽ là một động lực cho hệ xương phát triển.
1.7.5. Sự tái tạo xương
Khi xương gãy, giữa nơi gãy sẽ hình thành khối tổ chức liên kết do màng xương, cân cơ, mạch máu tuỷ xương và hệ thống havers. Tổ chức liên kết này ngấm vôi theo kiểu cốt hoá trực tiếp (cốt hoá màng) và làm lành xương. Do đó khi mổ kết hợp xương không được lấy đi màng xương và các tổ chức xương vụn, vì đây là nguồn cung cấp calci để tạo sự cốt hoá. Ngược lại khi cắt đoạn xương phải nạo màng xương để tránh hiện tượng tái tạo xương.
* Tóm lại: xương có nhiều chức năng quan trọng. Xương là một chất sống, nó dự trữ muối khoáng. Xương phát triển nhờ các yếu tố.
- Bên trong: độ PH, nồng độ các chất trong máu như P++, Ca++, các vitamin và các kích tố nội tiết.
- Bên ngoài : chế độ luyện tập ăn uống....
2. KHỚP XƯƠNG
Là nơi các xương liên kết với nhau để tạo thành bộ xương và làm cho cơ
thể cử động và di chuyển được. Về phương diện động tác, khớp được chia làm
3 loại: khớp bất động, khớp bán động, khớp động.
2.1. Khớp bất động
Khớp bất động là loại không có ổ khớp, bất động hoặc ít động về mặt chức năng.
Ở hộp sọ hai xương mắc vào nhau bởi một tổ chức liên kết hoặc sụn trung gian không có khoang giữa hai xương, chạm thương không gây sai khớp mà thường gẫy hoặc dập xương. Có hai loại khớp bất động:
- Khớp bất động sợi: hai xương mắc vào nhau theo nhiều cách: Khớp răng: trán đỉnh chăm.
Khớp vẩy: trai đỉnh.
Khớp nhịp: xương sống mũi.
Khớp mào: mào xương này khớp vào khe xương kia: bướm lá mía.
- Khớp bất động sụn: do một sụn dính chặt hai đầu xương vào nhau, và tiếp với cốt mạc ở 2 đầu xương bên ngoài: thân bướm dính vào mỏm nền xương chẩm.
2.2. Khớp bán động
Là những khớp cử động rất ít, giữa 2 đầu xương có sơ sụn có thể có khe khớp, ổ khớp, nhưng không đủ các thành phần trung gian (không có bao hoạt dịch).
Các khớp ở thân đốt sống. Khớp mu và khớp cùng chậu: có đĩa liên cốt ở
giữa một khe (coi như ổ khớp) khi phụ nữ sinh đẻ khớp giãn ra ít nhiều.
2.3. Khớp động
Khớp động là khớp có đầy đủ các thành phần của khớp như bao khớp, bao hoạt dịch... và hoạt động về mặt chức năng.
Là những khớp cử động nhiều (ở chi) cũng có những khớp cử động ít hơn (khớp cổ tay, cổ chân).
Khớp động đặc tính là giữa hai xương có ổ khớp, là một khoang kín không thông với bên ngoài, không có không khí, nên áp lực bên ngoài giữ chặt hai đầu xương với nhau.
Một khớp động gồm có: diện khớp, sụn khớp, bao khớp, dây chằng, bao hoạt dịch. Tuy nhiên tuỳ theo vị trí, cấu tạo mà gọi là khớp chỏm, khớp ròng rọc, khớp lưỡng lồi cầu, khớp trục, khớp phẳng...
2.3.1. Diện khớp
Nói chung 2 diện khớp phải lắp vào nhau, nên hình thể phải ăn khớp với nhau, diện này lồi diện kia lõm.
2.3.2. Sụn khớp
Sụn bọc: ở mặt khớp tròn nhẵn và đàn hồi.
Sụn viền: trong khớp chỏm, nếu chỏm quá to mà hõm khớp nhỏ thì có một sụn viền, viền xung quanh làm hõm rộng, sâu thêm và dính vào bao khớp.
2.3.3. Nối khớp
Bao khớp: là một bao sợi chắc bọc quanh khớp và gắn liền 2 đầu xương vào nhau và bám vào xung quanh các mặt của khớp, bao có chỗ dày chỗ mỏng tuỳ theo chiều của động tác.
Dây chằng: có 2 loại, loại do các sợi của bao khớp dày lên tạo thành, loại do các gân cơ tới bám vào các mấu ở gần khớp.
2.3.4. Bao hoạt dịch
Là 1 bao thanh mạc lót ở mặt trong bao khớp ở 2 đầu xương và xung quanh sụn bọc mà không phủ lên sụn, bao tiết dịch đổ vào khớp, làm trơn, cho khớp cử động dễ dàng.
2.3.5. Động tác
Tuỳ theo sự co của cơ bám vào xương, động tác rộng rãi hay không tuỳ
thuộc vào chức năng của khớp.
2.3.6. Liên quan và đường vào khớp
Tuỳ khớp có liên quan các vùng khác nhau. Đường vào khớp tuỳ từng mục đích phẫu thuật và đảm bảo an toàn thuận lợi.
2.4. Chức năng của khớp
Trong cơ thể người sống khớp có 3 chức năng quan trọng:
- Hỗ trợ cho sự ổn định vị trí của cơ thể.
- Tham gia vào việc vận động các phần cơ thể và tương hỗ lẫn nhau.
- Chuyển động cơ thể để di chuyển trong không gian.
Hoạt động của khớp là do hình dạng các mặt khớp quyết định. Mức độ động tác phụ thuộc vào độ lớn mặt khớp ví dụ trong khớp chỏm nếu hõm khớp là một cung 1100 còn chỏm có cung 2300 thì cung chuyển động của khớp sẽ là hiệu số của 2 số đó, tức là 1200. Hiệu số càng lớn thì cung chuyển động càng lớn và ngược lại. Ngoài ra, hoạt động khớp còn bị hạn chế bởi các cấu trúc hãm khác như dây chằng, mỏm xương ở xung quanh khớp... làm hạn chế các hoạt động khớp. Ở một số vận động viên, người ta nhận thấy độ hoạt động các khớp còn phụ thuộc vào các loại hình hoạt động thể thao chẳng hạn như khớp vai có tầm hoạt động lớn hơn ở vận động viên môn thể dục tự do và nhỏ hơn ở
môn cử tạ. Khi bao khớp hoặc bao hoạt dịch bị viêm, thành của nó bị dày dính, chất hoạt dịch không còn độ nhờn bôi trơn đầu khớp làm khớp hạn chế cử động và đau đớn. Các động tác thể dục, xoa bóp có tác dụng tốt đối với ổ khớp, gân và dây chằng là cho khớp được nuôi dưỡng tốt hơn, gia tăng quá trình hình thành hoạt dịch và làm cho dây chằng, bao khớp luôn giữ vững tính đàn hồi của nó.
Tóm lại: các khớp được phân chia theo chức năng vận động và theo cấu tạo của chúng. Khớp bất động là khớp không có bao khớp; khớp bán động có boa khớp nhưng không có bao hoạt dịch; còn khớp động là khớp vừa, có bao khớp vừa có bao hoạt dịch chứa dịch nhờn.
3. HỆ CƠ
3.1. Đại cương
Hệ cơ đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt đời sống của con người. Hoạt động của các cơ là co rút do bị kích thích vì vậy con người cử động được. Có 2 loại cơ:
- Cơ vân hay cơ bám xương hoạt động theo ý muốn, do thần kinh động vật chi phối và chiếm tới 2/5 trọng lượng cơ thể. Cơ thể người có khoảng 500 cơ vân khác nhau.
- Cơ trơn (kể cả cơ tim) do thần kinh tự chủ (thần kinh thực vật) chi phối, hoạt động ít nhiều không theo ý muốn và là cơ của các tạng, các tuyến và mạch máu.
3.2. Sơ lược về tổ chức học
3.2.1. Cơ trơn
Các tế bào cơ trơn hình thoi, trong nguyên sinh chất có tơ cơ rất mảnh. Hoạt động không tuỳ ý, do thần kinh thực vật chi phối, cơ trơn có sợi dọc, sợi chéo, sợi vòng, có chỗ phát triển thành cơ thắt, cơ trơn co rút chậm chạp, sợi ngắn, không có vân ngang.
3.2.2. Cơ vân
Cơ vân (gồm cả cơ tim) là những sợi dài nhiều nhân, nguyên sinh chất nhiều tơ cơ, có nhiều điểm sáng chồng lên nhau, nhìn trên một sợi cơ cắt dọc, ngoài những vách song song theo chiều dọc còn có nhiều vách song song theo chiều ngang.
Dưới kính hiển vi điện tử mỗi tơ cơ là một bó sợi rất nhỏ đó là xơ cơ: xơ Miozin và xơ Actin xen nhau. Xơ Actin vòng quanh Miozin, vách ngang là chỗ phình ra của sơ Miozin. Các sợi cơ vân hợp thành từng bó, nhiều bó hợp thành bắp cơ được bọc bởi một cân, tổ chức liên kết giữa các bó sẽ chuyển hai đầu thân cơ thành gân cơ.
3.3. Phân loại cơ và tên gọi cơ
Tuỳ theo số lượng, hình thể và chức năng của phần thịt và phần gân mà người ta phân loại cơ:
- Theo hình thể có 4 loại: cơ dài (các cơ ở chi); cơ rộng (các cơ thành bụng bên) cơ ngắn (các cơ vuông); và cơ vòng (các cơ thắt quanh lỗ tự nhiên).
- Cũng có thể dưa theo số lương thân và gân cơ mà chia ra: cơ nhi thân
(cơ 2 bụng); cơ nhị đầu, cơ tam đầu và tứ đầu.
- Tuỳ theo hình thể người ta gọi cơ vuông, cơ tam giác, cơ tháp, cơ tròn, cơ Delta, cơ răng...
- Tuỳ theo hướng đi của thớ cơ ta gọi là cơ thẳng, cơ chéo, cơ ngang...
- Tuỳ theo chức năng, chi ra thành cơ gấp, cơ duỗi, cơ dạng, cơ khép, cơ
sấp, cơ ngửa.v.v...
Tóm lại: có thể gọi tên cơ rất nhiều cách khác nhau như: theo hình thể; vị trí; chiều hướng, cấu tạo, chức năng, chỗ bám hoặc kết hợp giữa hình thể và kích thước; chức năng và hình thể, vị trí hay kích thước để gọi tên cơ.
3.4. Các thành phần phụ thuộc của cơ
Trợ lực cho hoạt động của cơ gồm mạc, bao hoạt dịch, bao sợi, túi hoạt dịch... Đây là những thành phần phụ thuộc của cơ.
3.4.1. Mạc
Là một tổ chức liên kết bao bọc một cơ hay nhóm cơ hay tất cả cơ ở một vùng, một khu. Các khu cơ ngăn cách bởi vách liên cơ, cơ càng nở nang thì mạc càng dầy và chắc.
3.4.2. Gân cơ
Ở hai đầu cơ, là cơ thon dần trông như liên tiếp với một gân tròn trắng bóng gồm những sợi keo bó chặt lại với nhau để bám vào xương.
3.4.3. Cân cơ
Gân bám dàn mỏng, rộng dẹt như một chiếc lá gọi là cân cơ.
3.4.4. Bao hoạt dịch
Là một túi thanh mạc bao bọc gân, gồm hai lá: lá trong bao bọc gân và lá ngoài sát bao sợi, ở hai đầu bao hai lá liên tiếp nhau tạo lên một túi kín chứa hoạt dịch làm cho cơ co rút được dễ dàng.
3.4.5. Ròng rọc
Ở chỗ gân thay đối hướng thì thường có một ròng rọc để gân đi qua đó.
3.4.6. Xương vừng
Nằm ở trong gân, làm tăng góc bám, tăng sức mạnh của gân.
3.5. Chức năng của cơ
Hệ cơ có chức năng quan trọng trong cử động, di chuyển và làm đảm bảo hoạt động của cơ quan: sinh sản, hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, tiếng nói và sự biểu lộ tình cảm của con người, ngoài ra còn tạo ra hình dáng biểu thị sức mạnh của cơ thể.
Cơ có chức năng sinh nhiệt.
- Khi cơ co rút thì có điểm tỳ và điểm động dẫn đến một cử động theo ý muốn, các cơ vận động xương theo nguyên tắc đòn bẩy. Mỗi cử động đều do sự tác động của các cơ đối lực thường có 3 loại:
+ Có điểm tỳ ở giữa.
+ Lực tác động ở giữa.
+ Lực cản ở giữa.
- Khi cơ hoạt động (trạng thái căng cơ) trong cơ có quá trình trao đổi chất và quá trình trao đổi năng lượng (phân huỷ chất hữu cơ giải phóng năng lượng) khi cơ vận động nhiều, máu chảy tới nhiều gấp 4-5 lần lúc thường. Acid lactic được tiết ra, đọng lại làm cho người mệt mỏi (vì nguyên sinh chất cứng lại thành myosin) hoặc co cứng (chuột rút). Sau khi chết 3-6 giờ thì tử Thi co cứng (albumin đông đặc) và mềm lại khi hiện tượng tan rã bắt đầu.

Submit "Đại cương hệ vận động" to Digg Submit "Đại cương hệ vận động" to del.icio.us Submit "Đại cương hệ vận động" to StumbleUpon Submit "Đại cương hệ vận động" to Google Submit "Đại cương hệ vận động" to Facebook Submit "Đại cương hệ vận động" to Twitter Submit "Đại cương hệ vận động" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Giải phẫu

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook