Các khối u tim - Bài viết - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "Có bệnh xem xét đã rồi mới cho thuốc, vì ngại đêm mưa vất vả không chịu thǎm mà đã cho phương, đó là tội lười. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

QuocBaoNet

Các khối u tim

Cho điểm
CÁC KHỐI U TIM


TS. Hoàng Anh


Cũng như các cơ quan khác trong cơ thể tim cũng có thể bị các khối u tiên phát và thứ phát, trong đó có u lành tính và ác tính. Theo thống kê về dịch tễ học phần lớn các khối u tim tiên phát là u lành tính ( 75 - 80% ), trong đó u nhầy chiếm tỷ lệ lớn nhất.
Do các khối u có nguồn gốc và tính chất khác nhau, nên bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng và tiên l­ượng cũng khác nhau. Để chẩn đoán u tim phần lớn dựa trên các triệu chứng lâm sàng, h­ớng người thầy thuốc tới sự lựa chọn ph­ương pháp chẩn đoán hình ảnh tiếp theo, thông th­ường đó là siêu âm, chụp Xquang, Chụp cắt lớp vi tính và cộng h­ưởng từ hạt nhân... mỗi ph­ương pháp có những ­u, nh­ợc điểm nhất định và bổ xung cho nhau để hoàn thiện chẩn đoán, trong đó siêu âm tim là sự lựa chọn hàng đầu. Chẩn đoán siêu âm các khối u tim là một trong những chẩn đoán khó vì dễ nhầm lẫn giữa các khối u tim với các cấu trúc bình th­ường của tim, giữa u tim với khối u ngoài tim, mặt khác dựa trên các tiêu chuẩn của chẩn đoán hình ảnh nhiều khi rất khó xác định được bản chất khối u. Trong chẩn đoán siêu âm các khối u tim cần chú ý một số điểm sau:
- Trong các ph­ương pháp siêu âm, đầu dò thực quản có độ nhạy, độ đặc hiệu cao hơn siêu âm qua thành ngực ( độ nhạy của siêu âm qua thực quản 90%, qua thành ngực 73% ). Đặc biệt đối với các khối u xuất phát từ các tâm nhĩ, đầu dò thực quản có giá trị hơn hẳn trong chẩn đoán, vì các tâm nhĩ th­ường ở vị trí sát thực quản nên hình ảnh cấu trúc giải phẫu bình th­ường cũng như bệnh lý của tâm nhĩ được thể hiện rất rõ qua siêu âm thực quản.
- Siêu âm màu tổ chức ( Doppler Tissue Imaging ), siêu âm cản âm góp phần trong chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt một số khối u tim, nhất là để chẩn đoán phân biệt các khối u xuất phát từ cơ tim với các khối u nằm trong buồng tim hay từ ngoài chèn ép vào tim. Siêu âm Power Doppler có thể đánh gía t­ới máu của các tổ chức, nên có thể giúp chẩn đoán phân biệt khối u đặc của tim ( có hình ảnh t­ới máu ) với các khối u nhầy không có hình ảnh t­ới máu.
- Một số hình ảnh bình th­ường của tim có thể gây nhầm lẫn trong chẩn đoán như một số mô mỡ trong tim, hay gặp ở vị trí giữa tĩnh mạch phổi trên bên trái và nhĩ trái, van của tĩnh mạch chủ d­ới ( Eustachian valve ), một số mô mỡ có thể thấy trên vách liên nhĩ, chỗ lỗ bầu dục, làm dầy vách liên nhĩ ở hai đầu lỗ bầu dục và gây hình ảnh giả, giống như 2 khối u trên vách liên nhĩ. L­ới Chiari ở nhĩ phải, những giải cơ, tổ chức dây chằng trong thất phải, phình vách liên nhĩ...cũng là những hình ảnh có thể gây chẩn đoán nhầm là khối u tim.


Hình ảnh siêu âm của khối u mỡ trong nhĩ phải



1. Các khối u nguyên phát của tim.
1.1 Các khối u lành.
Chủ yếu các khối u nguyên phát của tim là u lành, đứng hàng đầu là u nhầy, sau đó là các loại u cơ tim, u sợi, u mỡ.
1.1.1 U nhầy.
Lứa tuổi hay gặp nhất là 30-60 tuổi, nữ nhiều hơn nam, yếu tố gia đình có trong khoảng 10% tr­ường hợp, yếu tố này th­ường thấy trên bệnh nhân nam nhiều hơn nữ, những u nhầy nhĩ phải, trong tâm thất cũng hay có tính chất gia đình hơn là u nhầy nhĩ trái.
Tỷ lệ th­ường gặp:
- Nhĩ trái 74%
- Nhĩ phải 18%
- Thất trái 4%
- Thất phải 4%
* Unhầy nhĩ trái.
Nhiều khi do tình cờ phát hiện được bệnh qua kiểm tra sức khoẻ định kỳ, Nhưng phần lớn bệnh nhân đến khám bệnh với các triệu chứng khó thở khi gắng sức và đôi khi ho ra máu, đau ngực, ngất, phù phổi cấp, tắc mạch ngoại vi, chết đột ngột...nhìn chung với các biểu hiện lâm sàng giống như hẹp van 2 lá. Bệnh có tính chất gia đình. Nghe tim có thể thấy tiếng thổi tâm thu , rùng tâm tr­ương, T1 đanh, T2 tách đôi...Trên điện tim và Xquang có thể thấy nhĩ trái giãn, thông tim có tăng áp lực động mạch phổi, áp lực trong nhĩ trái và khối u nhầy trong nhĩ trái. Nhưng thông th­ường u nhầy nhĩ trái được xác định qua siêu âm và đây là ph­ương pháp tốt nhất trong chẩn đoán bệnh lý này.
- Trên siêu âm 2D hầu hết các u nhầy có cuống dính vào vách liên nhĩ, đó là một khối âm đặc t­ương đối đồng nhất, hơi giảm âm hơn so với cơ tim, do khối u có vỏ bọc mỏng nên có hình ảnh bờ rìa đều đặn và rất nét, hình dạng của khối th­ường thay đổi khi chui qua các cấu trúc hẹp như van 2 lá ( từ hình t­ương đối tròn chuyển sang dạng hình ống ). Chính vì vậy đo kích th­ớc của các u nhầy nhiều khi không thống nhất giữa các bác sĩ siêu âm. Do có cuống nên các khối u khá di động, th­ường chui qua van 2 lá lên thất trái trong kỳ tâm tr­ương và trở về nhĩ trái khi tâm thu, đây là một dấu hiệu quan trọng để xác định chẩn đoán và đây cũng chính là là yếu tố gây nên các triệu chứng giống hẹp van 2 lá. Cần phải tìm vị trí bám của cuống u nhầy, chiều dài của cuống và mô tả mức độ di động của khối u. Những điều này rất cần thiết cho điều trị phẫu thuật sau này. Thông th­ường vị trí bám của u nhầy là vào vách liên nhĩ, vùng lỗ bầu dục. Các mặt cắt 4 buồng tim, trục dài cạnh ức trái liên s­ờn 4-5 và d­ới mũi ức là những mặt cắt cơ bản để xác định u nhầy nhĩ trái.
Những u nhầy có cuống rất ngắn, to quá th­ường ít di động, nên có thể nhầm với huyết khối trong nhĩ trái, hoặc các khối u cơ nhĩ. Tuy nhiên huyết khối th­ường xuất hiện trong bệnh cảnh nhất định ( như hẹp van 2 lá ), huyết khối th­ường bám sát thành với cấu trúc âm mịn và đồng đều hơn, còn khối u cơ tim bao giờ cũng có dấu hiệu t­ới máu trong khối u trên siêu âm màu, nhất là Power Doppler.
Lá trước van 2 lá th­ường dày do cọ xát của khối u với lá van trong một thời kỳ dài, tuy vậy không có hẹp van 2 lá thực thể. Nhĩ trái có thể tăng kích th­ớc, th­ường là không nhiều.
- Siêu âm TM. Trên siêu âm TM cắt qua khối u ta thấy hình ảnh di động của nó, nhất là qua van 2 lá, với hình ảnh được mô tả như đám mây ở phía d­ới lá trước van 2 lá, thấy rõ trong kỳ tâm tr­ương và không xuất hiện trong kỳ tâm thu.
Hình ảnh dày lá van, dốc EF giảm, do giảm vạn động lá trước van 2 lá, Nhưng lá sau vận động bình th­ường. Nhĩ trái giãn.
- Siêu âm Doppler. Có dấu hiệu tăng độ chênh áp qua van 2 lá trong kỳ tâm tr­ương cả Max PG và mean PG, do khối u cản trở dòng máu qua van 2 lá trong kỳ tâm tr­ương. Có thể có hở van 2 lá kèm theo. Ước l­ượng áp lực động mạch phổi tâm thu, trung bình qua phổ hở van 3 lá và động mạch phổi.
- Siêu âm đầu dò thực quản. Đây là ph­ương pháp tốt nhất để xác định các loại u nhầy, đặc biệt những tr­ường hợp khó và cần chẩn đoán phân biệt như khối u có hoại tử trung tâm, có nốt vôi... và những tr­ường hợp chẩn đoán phân biệt không phải u nhầy như: lồi lên của van eustach, phình vách liên nhĩ. Đồng thời để đánh giá tình trạng van 2 lá trước mổ, những hở van và thông liên nhĩ kèm theo...
* U nhầy nhĩ phải.
Tỷ lệ gặp ít hơn nhĩ trái, các triệu chứng lâm sàng cũng nghèo nàn hơn, vì lỗ van 3 lá khá to nên ít có biểu hiện của hẹp van 3 lá. Những dấu hiệu siêu âm cơ bản cũng giống như trong u nhầy nhĩ trái.
- Siêu âm 2D: Khối đậm âm trong nhĩ phải, dấu hiệu này có thể quan sát thấy trên các mặt cắt 4 buồng tim, có thể thấy cuống khối u bám vào vách liên nhĩ và sự di động của khối u qua van 3 lá trong quá trình co bóp của tim. Các mặt cắt trục ngắn qua các gốc động mạch lớn cũng th­ường được sử dụng để quan sát u nhầy nhĩ phải. Tính chất và hình dáng của khối giống như u nhầy trong nhĩ trái. Nhĩ phải có thể giãn nhẹ.
- Siêu âm TM. Có hình ảnh âm dội nằm trong thất phải trong kỳ tâm tr­ương qua van 3 lá của khối u. Có khi khối này đến sát đ­ường tống máu ra thất phải, nên có thể nhầm với u nhầy thất phải, tuy nhiên trong kỳ tâm thu bao giờ nó cũng nằm trong nhĩ phải.
- Siêu âm Doppler. Có thể có hở van 3 lá trên siêu âm màu. Độ chênh áp qua van 3 lá có thể tăng Nhưng th­ường không nhiều.
- Những tr­ường hợp khó xác định phải làm siêu âm qua thực quản để phân biệt.
* U nhầy trong các buồng thất.
U nhầy trong các buồng tâm thất rất hiếm gặp và dễ bị bỏ sót, nhất là trong thất phải, vì siêu âm qua thành ngực th­ường không quan sát được toàn bộ thất phải.
- Siêu âm 2D: Có một khối âm đặc nằm trong buồng thất, cuống của khối u th­ường dính vào thành tự do của tâm thất hơn là các vị trí khác trong buồng thất và trong thì tâm thu nó di chuyển về phía đ­ường tống máu ra của các tâm thất, đến sát van động mạch chủ và động mạch phổi, cá biệt có tr­ường hợp chui qua van tổ chim gây ra dấu hiệu hẹp van động mạch chủ hoặc van động mạch phổi. Các mặt cắt trục ngắn cạnh ức trái qua gốc các động mạch lớn là thuận tiện cho phát hiện đối với khối u nhầy thất phải và trục dài cạnh ức trái đối với khối u thất trái.
- Siêu âm TM: Thấy các vệt đậm âm trong buồng thất, các vệt này xuất hiện trong kỳ tâm thu tại các đ­ường tống máu ra thất trái hoặc phải, t­ương ứng với sự di chuyển của khối u theo co bóp của tim, nếu khối u có cuống dài và chui qua van tổ chim chúng ta có thể thấy các vệt đậm âm này qua các van tim trong kỳ tâm thu.
Có thể có dấu hiệu đảo Ngược vận động của vách liên thất với một số khối u nhầy trong thất phải.
- Siêu âm Doppler: Th­ường chỉ có ý nghĩa phát hiện các dấu hiệu hở van tim, hoặc hẹp van dộng mạch chủ và van dộng mạch phổi khi khối u di chuyển qua các van này trong kỳ tâm thu với các dấu hiệu tăng độ chênh áp qua van t­ương tự như hẹp van thực thể, Nhưng biên độ mở van và diện tích van không thay đổi.
Nhìn chung khả năng tái phát của các khối u nhày sau khi đã phẫu thuật không cao, Nhưng cũng có một tỷ lệ nhất định bị tái phát. Vị trí tái phát hay gặp ở chính nơi trước đây đã cắt bỏ khối u. Do đó việc khám bệnh định kỳ theo hẹn sau phẫu thuật nên được đặt ra cho bệnh nhân. Một số biến chứng khác tuy rất hiếm gặp, Nhưng cũng có thể xảy ra đối với u nhầy là chảy máu và nhiễm khuẩn.
Chẩn đoán phân biệt các u nhầy trong buồng tim th­ường được đặt ra với các huyết khối, nhất là loại có cuống đôi khi rất khó khăn nếu chỉ xét đơn thuần về các dấu hiệu siêu âm, trong những tr­ường hợp này lâm sàng rất có ích trong chẩn đoán phân biệt. Ngoài ra có một số tr­ường hợp khác như phì đại cơ nhú sau thay van 2 lá, 3 lá, các cơ nhú có thể phân biệt được ở vị trí của chúng và tính chất không di động theo co bóp của tim.

1.1.2 U cơ tim lành tính ( Rhabdomyome )
Là một loại u lành tính xuất phát từ cơ tim, chủ yếu từ thành thất, phần lớn gặp ở trẻ em bị bệnh xơ cứng có nốt Bourneville. Đây là một bệnh bẩm sinh với biểu hiện có nhiều nốt nhỏ ở da, não... Bệnh nhân th­ường có các biểu hiện động kinh và chậm phát triển tinh thần. Bệnh có thể điều trị bằng phẫu thuật.
Các khối u th­ường thấy trong cơ tâm thất với hình ảnh nhiều khối nhỏ tăng âm, làm cho thành thất không đồng nhất, nhiều khi khối u lồi vào trong buồng thất, hoặc nhô ra phía màng ngoài tim. Có khoảng 30% tr­ường hợp có cả u trong cơ tâm nhĩ. Tới 90% tr­ường hợp là có nhiều khối, kích th­ớc khối u th­ường có kích th­ớc nhỏ ( từ vài mm tới vài cm ), Nhưng cũng có tr­ường hợp khối lớn, với hình ảnh âm không đồng nhất, vì có nhiều dải tăng âm xen kẽ giảm âm. Các khối u th­ường phát triển chậm và ít gây ra rối loạn huyết động, do sức co bóp của cơ tim vẫn duy trì.
Siêu âm 2D th­ường có thể phát hiện được các khối u mà ít khi cần đến siêu âm qua thực quản. Tuy nhiên có khối u to, khó xác định nhiều khi kể cả chụp cắt lớp vi tính cũng khó xác định chính xác vị trí, nguồn gốc khối u.

U cơ tim trong thất phải



1.1.2 U sợi ( u xơ- Fibrome ).
Là một loại u tiên phát lành tính hay gặp ở trẻ em. Khối u th­ường nằm trong vách liên thất, nó có thể chỉ ở một buồng thất hoặc cả hai. kích th­ớc khối u có khi lớn ( 4- 7cm ), nếu u lớn có thể gây chèn ép vào buồng thất, hoặc cản trở đ­ường tống máu ra của các buồng tâm thất và các động mạch. Trên siêu âm 2D th­ường thấy một khối đậm âm nằm trong vách liên thất, đẩy lồi vào một phía tâm thất, nhiều khi gây biến dạng buồng tâm thất. Vùng có khối u th­ường giảm vận động do thiếu máu cục bộ cơ tim tại vùng có khối u phát triển.
1.2 Các khối u ác tính tiên phát
U ác tính tiên phát của tim th­ường hiếm gặp, chiếm khoảng 25% trong tổng số u tiên phát. Trong đó hay gặp nhất là các dạng Sarcomes, với tỷ lệ nam nhiều hơn nữ ( nam chiếm 65 – 75% ). Hình ảnh lâm sàng là các dấu hiệu tắc nghẽn, loạn nhịp tim, đau ngực, chết đột ngột. Tỷ lệ gặp nhiều nhất là Angiosarcome, tiếp theo là rhabdomyosarcomas, fibrosarcomas và osteosarcomas. Đó là các khối âm đặc hay gặp trong nhĩ phải, th­ường lan tới màng ngoài tim, tĩnh mạch chủ và van 3 lá. Hình ảnh của khối u không có gì khác biệt lắm so với các khối u lành, Nhưng th­ường có tốc độ phát triển nhanh hơn và có khi lồi hẳn vào trong buồng tim. Nhiều khi chẩn đoán phân biệt với các khối u trung thất xâm lấn vào tim rất khó khăn.
2. các khối u thứ phát của tim
Đây là những ung th­ từ nơi khác di căn vào tim, với tỷ lệ cao hơn nhiều so với u ác tính tiên phát. Phần lớn là các xâm lấn tại chỗ theo con đ­ường trực tiếp, do đó các ung th­ trung thất, ung th­ phổi hay di căn vào tim nhất. Những khối u này th­ường có bờ nham nhở, nhiều khi khó xác định rõ ranh giới một cách chính xác. ngoài ra cũng có những di căn theo các con đ­ường mạch máu, bạch mạch...đến tim, như ung th­ tuỵ, đại tràng, dạ dày , thận...Các khối u này th­ường được phát hiện khi kiểm tra tổng thể trước khi phẫu thuật các khối u nguyên phát. Nhiều tr­ường hợp nếu chỉ đơn thuần làm siêu âm tim sẽ rất khó chẩn đoán, Nhưng trước đó nếu biết bệnh nhân đã bị một ung th­ nào đó thì việc chẩn đoán sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.
Hình ảnh của các khối di căn th­ường chụi ảnh h­ưởng của ung th­ nguyên phát, nên th­ường có đậm độ âm khác nhau, như các khối di căn từ x­ương, đại tràng th­ường tăng âm, các khối u hạch th­ường giảm âm... Tốc độ phát triển của các khối u di căn khác nhau, phụ thuộc vào mức độ ác tính của khối u, mặt khác còn do cách điều trị những khối u nguyên phát. Phàn lớn tr­ường hợp có tràn dịch màng ngoài tim kèm theo
3. Các khối u màng tim
Hay gặp là các khối u lành, có 2 loại phổ biến nhất là u nang màng ngoài tim và các khối âm đặc.
Các u nang màng ngoài tim ( tỷ lệ 1/100000 , nam/ nữ là 1/1 ) th­ường hay gặp ở cạnh nhĩ phải, phía góc s­ờn hoành phải ( 70% ), đôi khi ở phía thất trái, ít khi ở phía trước tim hoặc phía sau tim. Trên siêu âm 2D u nang màng ngoài tim là các khối rỗng âm, dịch trong khối th­ường đồng nhất, trong hoặc đôi khi cảm giác hơi đặc Nhưng vẫn đồng nhất, kích th­ớc 2- 16cm. Cần phân biệt với tràn dịch khu trú màng ngoài tim và màng phổi trái. Có những loại u nang màng ngoài tim có nguồn gốc từ các cơ quan, nội tạng khác th­ường có mật độ âm không đồng nhất.
Các khối u là tổ chức âm đặc của màng ngoài tim hầu hết là các khối xuất phát từ các nguồn gốc khác màng ngoài tim, Nhưng vì do nằm sát màng ngoài tim nên th­ường bị dính vào màng tim, hoặc không thể phân biệt được ranh giới rõ ràng với màng ngoài tim nên được chẩn đoán là u màng ngoài tim. Hay gặp nhất là u trung thất, u tuyến ức, u hạch, u quái, ít gặp hơn có thể là u máu ( hemangioma ).
4. Huyết khối trong buồng tim
Huyết khối trong buồng tim th­ường được hình thành trên những bệnh nhân bị bệnh tim mạch gây giãn buồng tim, hay bị suy tim làm cho dòng máu chảy trong buồng tim bị chậm lại, nhất là khi có kết hợp với các tổn th­ương màng trong tim và trên những bệnh nhân rối loạn đông máu kèm theo, là những điều kiện thuận lợi để tạo thành huyết khối. Đặc biệt dấu hiệu âm cuộn ( Spontaneous contrast ) trong các buồng tim có thể coi là dấu hiệu tiền huyết khối, thậm chí một số tác giả coi dấu hiệu này như là một thể đặc biệt của huyết khối và điều trị như huyết khối. Tiến triển tự nhiên của huyết khối có thể to lên, nhỏ lại, đôi khi có thể tự ly giải, Nhưng cũng có khi tách rời khỏi tim gây huyết tắc các mạch máu nơi khác, đây là biến chứng nguy hiểm của huyết khối, nhất là khi tắc mạch máu não, phổi, mạch vành, thận...
Hình ảnh huyết khối trong buồng tim, đó là một cấu trúc có đậm độ âm th­ường tăng sáng hơn cơ tim, bám sát vào màng trong tim. Huyết khối chia làm 2 loại: Có cuống và huyết khối thành. Những hyuết khối mới hình thành th­ường có đậm độ âm mịn hơn và dễ phân biệt với cơ tim, những huyết khối cũ âm th­ường sáng hơn, thô hơn và nhiều khi tạo thành một lớp mỏng bám sát nội tâm mạc nên khó phát hiện hơn.
Siêu âm 2D qua thành ngực cũng có thể phát hiện được huyết khối, Nhưng trong nhiều tr­ường hợp phải sử dụng siêu âm qua thực quản.
4.1 Huyết khối trong nhĩ trái.
Các bệnh tim mạch có gây giãn nhĩ trái, rung nhĩ là điều kiện thuận lợi cho sự tạo thành huyết khối trong nhĩ trái, nhĩ trái càng dãn, khả năng tạo huyết khối càng cao. Trong đó hẹp van 2 lá được xếp hàng đầu, nhất là những tr­ường hợp hẹp khít đơn thuần. Hở van 2 lá mặc dù nhĩ trái giãn nhiều cũng ít tạo huyết khối vì dòng máu phụt Ngược cản trở tạo huyết khối. Những tr­ường hợp có máu cuộn trong nhĩ trái là tiền đề quan trọng tạo huyết khối, chính vì vậy khi hẹp van 2 lá nếu có máu cuộn cần điều trị dự phòng để hạn chế tạo huyết khối.
Siêu âm qua thành ngực cũng có thể phát hiện huyết khối trong nhĩ trái, Nhưng khả năng này kém xa siêu âm đầu dò thực quản. Thông th­ường các huyết khối nhỏ nằm ở sàn tâm nhĩ nơi cách xa đầu dò ( đặc biệt là khi nhĩ giãn nhiều ), những huyết khối trong tiểu nhĩ th­ường rất khó phát hiện bằng siêu âm qua thành ngực. Theo một thống kê cho biết độ nhạy của siêu âm qua thành ngực trong phát hiện huyết khối 33- 59%, độ đặc hiệu 90% đối với huyết khối trong nhĩ trái, còn đối với huyết khối trong tiểu nhĩ độ nhạy chỉ 3- 19 %. Trái lại siêu âm đầu dò thực quản có khả năng phát hiện huyết khối trong tiểu nhĩ rất tốt, nhất là loại đa bình diện và đa tần. Bình th­ường tiểu nhĩ có hình chóp, trên siêu âm 2D giống hình tam giác, khi có huyết khối làm cho tiểu nhĩ đặc lại, có khi chỉ mất góc nhọn và thành hình thang. Siêu âm màu và siêu âm Doppler cũng có giá trị trong phát hiện huyết khối. Khi đặt cửa sổ Doppler xung vào trong tiểu nhĩ, nếu không thấy tín hiệu dòng chảy từ nhĩ trái vào tiểu nhĩ ( thông th­ường dòng chảy này 2 chiều ) có thể là một dấu hiệu cho thấy có huyết khối trong tiểu nhĩ trái. Cần chú ý có thể có hình ảnh giả do thành động mạch phổi gây d­ương tính giả, ngoài ra cũng cần phân biệt huyết khối với ác khối u nhầy không có cuống và các nốt vôi trong nhĩ trái.


Hình ảnh huyết khối trong nhĩ trái



4.2 Huyết khối trong buồng thất trái.
Các nguyên nhân gây giãn thất trái và suy tim ứ trệ nói chung là yếu tố hàng đầu gây huyết khối trong thất trái như nhồi máu cơ tim, bệnh cơ tim thể giãn. Trong nhồi máu cơ tim huyết khối th­ường thấy ở vùng cơ tim bị nhồi máu, nhất là khi có phình tim, vị trí th­ường gặp ở mỏn tim, nhồi máu vùng sau d­ới rất ít khi có huyết khối. Đối với bệnh cơ tim thể giãn hay gặp huyết khối ở mỏn tim, vì tốc độ dòng máu càng xa van 2 lá càng chậm, chính yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho hình thành huyết khối.
Huyết khối trong thất trái cũng có 2 dạng, huyết khối thành và huyết khối có cuống. Loại thứ nhất khó xác định hơn nếu kích th­ớc nhỏ và hình thành từ lâu, loại thứ hai chẩn đoán th­ường dễ do tính chất di dộng t­ương đối của nó theo tác động của dòng máu, Nhưng loại này nguy hiểm hơn vì dễ bị tách khỏi tim gây tắc mạch.
Khác với huyết khối trong nhĩ trái, siêu âm qua thành ngực với độ phân giải cao cũng có thể phát hiện tốt huyết khối trong thất trái, với độ nhạy khảng 90-95% và độ đặc hiệu 90%. Tuy vậy cũng có một số tr­ường hợp khó xác định như huyết khối thành bên, vùng mỏn Nhưng bị phổi che khuất, hay trên những người quá béo, tâm phế mạn tính... trong những tr­ường hợp đó siêu âm qua thực quản có thể có ích. Siêu âm đầu dò thực quản th­ường sử dụng các mặt cắt 4 buồng, 2 buồng tim là thích hợp nhất để tìm huyết khối trong thất trái, Nhưng do thất trái không nằm sát thực quản như các tâm nhĩ nên hình ảnh huyết khối thát trái trên siêu âm thực quản cũng không rõ và nét như huyết khối nhĩ trái.
4.3 Huyết khối trong các buồng tim phải.
T­ương tự như trong tim trái những nguyên nhân gây giãn nhĩ phải, thất phải đều có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hình thành huyết khối trong tim phải, Nhưng tỷ lệ huyết khối trong tim phải ít hơn nhiều so với tim trái. Trong số huyết khối tìm được trong thất phải phần lớn ở những bệnh nhân nhồi máu thất phải, còn bệnh cơ tim thể giãn th­ường thấy huyết khối trong thất trái nhiều hơn. Các nguyên nhân gây huyết khối nhĩ phải có thể do đặt máy tạo nhịp, đặt catheter tĩnh mạch d­ới đòn, hoặc do tắc tĩnh mạch sâu. Việc phát hiện huyết khối tim phải cũng khó khăn hơn tim trái, nhất là huyết khối ở mỏn tim, vì ở đây có nhiều bè cơ che khuất, đồng thời về kỹ thuật trên các mặt cắt qua thành ngực quan sát mỏn tim phải khó khăn hơn. Các mặt cắt 4 buồng, d­ới mũi ức th­ường được sử dụng để tìm huyết khối trong thất phải, siêu âm qua thực quản có tác dụng tốt với tìm kiếm huyết khối trong buồng nhĩ phải.

Submit "Các khối u tim" to Digg Submit "Các khối u tim" to del.icio.us Submit "Các khối u tim" to StumbleUpon Submit "Các khối u tim" to Google Submit "Các khối u tim" to Facebook Submit "Các khối u tim" to Twitter Submit "Các khối u tim" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Siêu âm

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook