Viêm cầu thận mạn tính - Bài viết - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "Lại như xét bệnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bệnh, đó là tội dốt nát. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

QuocBaoNet

Viêm cầu thận mạn tính

Cho điểm
Viêm cầu thn mạn tính
(Chronic glomerulonephritis)
BS. Hoàng Đàn (Bệnh học nội khoa HVQY)
1. Định nghĩa và khái niệm.
Viêm cầu thn mạn tính là một quá trình tổn thương thực thể xảy ra ở tất cả các cầu thn của hai thn; bao gồm các tình trạng tăng sinh, phù nề, xuất tiết và hoại tử hyalin, xơ hoá một phần hoặc toàn bộ cầu thn. Bệnh tiến triển mạn tính qua nhiều tháng, nhiều năm dẫn đến xơ teo cả 2 thn.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh đa dạng, triệu chứng thường gặp là: phù, protein niệu, hồng cầu niệu, tăng huyết áp. Bệnh diễn biến thành từng đợt, sau 10-15 năm thì sẽ xuất hiện suy thn mạn tính không hồi phục.
Ngày nay, người ta cho rằng viêm cầu thn mạn là một hội chứng-hội chứng viêm cầu thn mạn tính (HCVCTM). HCVCTM tính có thể gặp trong nhiều thể tổn thương mô bệnh học khác nhau. Một thể tổn thương mô bệnh học diễn biến lâm sàng khái quát như sau:


Các thể tổn thương mô bệnh học như viêm cầu thn tăng sinh gian mạch, viêm cầu thn màng, viêm cầu thn màng tăng sinh, xơ hoá cầu thn ổ, viêm cầu thn tăng sinh ngoài mao mạch đều có thể diễn biến khái quát như trên. Nhưng tỷ lệ giữa các hội chứng lâm sàng thì khác nhau. Có những thể tổn thương mô bệnh học biểu hiện lâm sàng chủ yếu là hội chứng thn hư, nhưng thể khác lại biểu hiện bằng protein niệu và hồng cầu niệu mà không có triệu chứng lâm sàng.
Bệnh lý cầu thn mạn tính gồm có 4 hình thái lâm sàng:
- Hội chứng viêm cầu thn cấp (HCVCTC).
- Hội chứng viêm cầu thn mạn (HCVCTM).
- Hội chứng thn hư (HCTH).
- Biến đổi không bình thường ở nước tiểu (protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng).
4 hình thái lâm sàng trên biến đổi luân phiên trong quá trình tiến triển của bệnh, kéo dài hàng tháng, hàng năm và hậu quả cuối cùng là suy thn mạn tính.
Tuy nhiên, ngày nay người ta vẫn dùng danh pháp viêm cầu thn mạn tính theo một nếp quen từ lâu nay.
2. Căn nguyên của viêm cầu thn mạn tính.
2.1. Viêm cầu thn mạn tính không rõ căn nguyên:
2.1.1. Viêm cầu thn tăng sinh gian mạch:
Đặc điểm của bệnh viêm cầu thn tăng sinh gian mạch là tăng sinh tế bào gian mạch, tăng sinh tế bào nội mô mạch máu, tăng sinh tổ chức gian mạch. Miễn dịch huỳnh quang (+) với IgM, IgG, IgA và bổ thể. Các ổ lắng đọng nằm trong khoảng gian mạch. Nhưng cũng có trường hợp miễn dịch huỳnh quang (-). Ngày nay, người ta thấy viêm cầu thn tăng sinh gian mạch phần lớn là bệnh lý cầu thn do IgA, còn gọi là bệnh Berger, được mô tả năm 1968. Chỉ 10% viêm cầu thn tăng sinh gian mạch biểu hiện bằng hội chứng thn hư; số khác biểu hiện lâm sàng thường gặp là hội chứng viêm cầu thn cấp, hội chứng viêm cầu thn mạn và protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng.
2.1.2. Viêm cầu thn tăng sinh ổ, đoạn:
Tình trạng viêm xảy ra ở một phần của cầu thn hoặc toàn bộ cầu thn, các cầu thân bị tổn thương nằm xen lẫn giữa những cầu thn còn nguyên vẹn. Hầu hết viêm cầu thn tăng sinh ổ, đoạn là bệnh lý cầu thn do IgA. Biểu hiện lâm sàng là đái ra máu chu kỳ, xảy ra sau một nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và protein niệu ≈ 1g/24h, thường không có phù, không tăng huyết áp.
2.1.3. Xơ hoá cầu thn ổ, đoạn:
Bệnh được mô tả năm 1957 do Rich. Đặc điểm mô bệnh học là xơ hoá, hyalin hoá một phần hoặc toàn bộ cầu thn mà không hề có hiện tượng tăng sinh tế bào. Tổn thương đầu tiên xuất hiện ở các cầu thân vùng cận tủy lan dần ra toàn bộ vùng vỏ. Các cầu thn tổn thương nằm xen lẫn giữa các cầu thn bình thường. Trong kẽ thn có hiện tượng teo ống thn, xâm nhập tế bào viêm cục bộ, miễn dịch huỳnh quang (+) với IgM và C3 ở vùng tổn thương. 90% các trường hợp xơ hoá cầu thn ổ, đoạn biểu hiện bằng hội chứng thn hư.
2.1.4. Viêm cầu thn màng:
Đặc điểm mô bệnh học của bệnh là dày màng nền cầu thn do phức hợp miễn dịch lắng đọng ở phía ngoài của màng nền cầu thn dưới bề mặt biểu mô, dày màng nền đơn thuần, không có hiện tượng tăng sinh tế bào trong cầu thn. 80% các trường hợp viêm cầu thn màng có biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng thn hư, số còn lại biểu hiện bằng hội chứng viêm cầu thn mạn hoặc protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng.
2.1.5. Viêm cầu thn màng tăng sinh:
Đặc điểm mô bệnh học là tăng sinh các tế bào gian mạch, tổ chức gian mạch kết hợp với các ổ lắng đọng phức hợp miễn dịch trong và ngoài màng nền dưới tế bào biểu mô, trong gian mạch và cả trên màng nền. Thành phần của ổ lắng đọng chủ yếu là C3, và một ít IgG. Bệnh thường kèm theo giảm bổ thể nên còn được gọi là bệnh viêm cầu thn giảm bổ thể. Dựa vào vị trí của ổ lắng đọng phức hợp miễn dịch, người ta chia viêm cầu thn màng tăng sinh làm 3 típ:
-Típ I chiếm tỷ lệ 45%: những ổ lắng đọng nằm phía trong màng nền dưới bề mặt nội mô và trong gian mạch.
-Típ II chiếm tỷ lệ 35%: các ổ lắng đọng trên màng nền, màng nền giống như được phủ một dải băng.
-Típ III chiếm tỷ lệ 20%: các ổ lắng đọng nằm ở phía trong và phía ngoài màng nền, dưới bề mặt nội mô và biểu mô, trong các gian mạch.
60% các trường hợp viêm cầu thn màng tăng sinh có hội chứng thn hư, số còn lại biểu hiện lâm sàng dưới dạng hội chứng VCTM, hội chứng VCTC hoặc protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng.
2.1.6. Viêm cầu thn tăng sinh ngoài mao mạch:
Tăng sinh các tế bào lá thành của bao Bowmann và tình trạng thẩm lậu fibrin vào Bowmann, tăng sinh tổ chức xơ sợi và tế bào lấp đầy khoang Bowmann, ôm gần hết cuộn mạch cầu thn và người ta thường gọi là tăng sinh hình liềm. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là viêm cầu thn cấp tính, dấu hiệu nổi bật nhất là thiểu niệu, suy thn cấp tiến triển thành từng đợt. Bệnh tiến triển đến suy thn mạn tính không hồi phục, bệnh nhân thường tử vong trong vòng 6 tháng đến 2 năm. Viêm cầu thn tăng sinh ngoài mao mạch còn gọi là viêm cầu thn tiến triển nhanh, hay còn gọi là viêm cầu thn ác tính.
2.2. Viêm cầu thn mạn thứ phát:
Viêm cầu thn mạn thứ phát xảy ra sau nhiều bệnh lý nội khoa khác nhau. Nguyên nhân của viêm cầu thn mạn đa dạng, phong phú. Nguyên nhân chủ yếu là:
2.2.1. Bệnh lý cầu thn do Collagenose:
- Luput ban đỏ hệ thống: là một bệnh tự miễn, thường gặp ở phụ nữ (95%), rất hiếm gặp ở nam giới. Biểu hiện chủ yếu là ban cánh bướm ở mặt, sốt cao kéo dài, tóc rụng, viêm màng ngoài tim, viêm màng phổi, giảm bạch cầu, tế bào Hargraves (++), kháng thể kháng nhân (++). Tổn thương thn: 80-100% có viêm cầu thn mạn tính và có hội chứng thn hư. Đại bộ phận bệnh nhân luput ban đỏ hệ thống bị tử vong do suy thn giai đoạn cuối.
- Xơ cứng bì toàn thể: là một bệnh tự miễn, gặp cả ở hai giới nam và nữ. Tổn thương nhiều cơ quan, trong đó có thân.
- Bệnh viêm đa cơ và da-cơ.
- Bệnh tổ chức liên kết hỗn hợp: xơ cứng bì kết hợp với luput ban đỏ hệ thống, viêm da-cơ.
2.2.2. Tổn thương cầu thn do bệnh lý mạch máu:
- Viêm các vi mạch máu nhỏ dạng nút.
Đây là một bệnh lý mạch máu nhỏ liên quan đến kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính (ANCA: antineutrophil cytoplasmic antibody). Tổn thương ở nhiều cơ quan, chủ yếu là phổi và thn.
Ở phổi là tình trạng thâm nhiễm, biểu hiện lâm sàng bằng cơn khó thở kiểu hen.
Ở thn biểu hiện bằng viêm cầu thn tăng sinh hoại tử ổ, đoạn; viêm cầu thn tăng sinh hình liềm.
- Bệnh u hạt Wegener.
Bệnh gây tổn thương ở nhiều cơ quan: viêm đường hô hấp trên hoại tử, viêm xoang, viêm mũi, viêm tai giữa, viêm màng phổi, viêm phổi, hẹp thanh-khí quản, tổn thương tim. 80% bệnh u hạt Wegener có tổn thương thn. Trong máu bệnh nhân tồn tại kháng thể ANCA-c (cytoplasmic). Ngược lại, trong viêm vi mạch dạng nút thì lại tồn tại kháng thể ANCA-p (perinuclear).
- Xuất huyết dạng thấp (bệnh Scholein- Henoch): xuất huyết dạng bít tất hai cẳng chân thành từng chấm nhỏ như muỗi đốt; kèm theo đau bụng, đi ngoài ra máu, viêm cầu thn mạn tính: phù, protein niệu, hồng cầu niệu.
2.2.3. Hội chứng Goodpasturê:
Bệnh được mô tả từ năm 1919 ở một bệnh nhân nam 18 tuổi. Biểu hiện lâm sàng là khái huyết, có thể khái huyết ồ ạt dẫn đến tử vong, kết hợp với viêm cầu thn mạn tính và thường là viêm cầu thn tăng sinh ngoài mao mạch. Trong máu bệnh nhân lưu hành kháng thể kháng màng nền cầu thn.
2.2.4. Đái tháo đường:
Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hoá thường gặp nhất và là một bệnh xã hội. Bệnh gây tổn thương rất nhiều cơ quan trong đó có thn: xơ hoá cầu thn, xơ hoá trong khoang Bowmann tạo thành một vòng xơ sợi ôm lấy cuộn mạch cầu thn.
Biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng viêm cầu thn mạn tính, hội chứng thn hư, xơ tiểu động mạch thn-thn lành tính hoặc xơ hoá động mạch thn-thn ác tính. Suy thn giai đoạn cuối là một trong những nguyên nhân tử vong của đái tháo đường.
2.2.5. Viêm cầu thn do nhiễm khuẩn:
+ Viêm cầu thn do các virut viêm gan:
Viêm gan mạn tính do virut B và virut C (HBV-hepatitis B virut và HCV-hepatitis C virut) là một trong những nguyên nhân gây viêm cầu thn mạn tính. Không ít trường hợp vừa có tổn thương gan [(SGOT, SGPT và bilirubin tăng), HBsAg (++), anti HCV (++)] kết hợp với viêm cầu thn. Người ta đã phát hiện các kháng nguyên virut viêm gan B ở cầu thn.
+ Viêm màng trong tim bán cấp (bệnh osler):
Bệnh Osler thường xuất hiện trên bệnh nhân bị bệnh van tim hoặc ở bệnh nhân nghiện ma túy. Biểu hiện chủ yếu của bệnh là sốt cao, kéo dài hàng tháng, thiếu máu, bạch cầu tăng, lách to, ngón tay dùi trống, vi áp xe ngoài da, móng tay khum, cấy máu có mọc vi khuẩn, siêu âm tim thấy cục sùi ở van động mạch chủ hoặc van hai lá; viêm cầu thân hình liềm cục bộ với biểu hiện lâm sàng là đái ra máu và protein niệu...
+ Viêm cầu thận mạn tính do sốt rét, do bệnh phong, giang mai.
2.2.6. Viêm cầu thn do nhiễm độc:
- Nhiễm độc muối vàng.
- Nhiễm độc penicillamin.
2.2.7. Viêm cầu thn mạn tính do lắng đọng các protein bất thường:
- Bệnh thn do chuỗi nhẹ.
- Bệnh thn do chuỗi nặng.
- Bệnh Waldenstrom bệnh đại phân tử globulin (Waldenstroms macroglobulin).
- Amyloidosis tiên phát và amyloidosis thứ phát.
2.2.8. Bệnh cầu thn do các bệnh lý ác tính:
Bệnh bạch cầu cấp, bệnh bạch cầu mạn, sarcoma hạch, bệnh Kahler.
3. Cơ chế bệnh sinh của viêm cầu thn mạn tính tiên phát.
Viêm cầu thn mạn tính tiên phát hay còn gọi viêm cầu thn mạn tính không rõ căn nguyên là bệnh lý miễn dịch. Đại bộ phận viêm cầu thn mạn tiên phát là bệnh lý gây nên bởi phức hợp miễn dịch, khác với viêm cầu thn cấp do nhiễm khuẩn, kháng nguyên trong viêm cầu thn mạn tính không rõ căn nguyên và rất đa dạng. Kháng nguyên có thể ngoại lai như kháng nguyên hoà tan của vi khuẩn hoặc kháng nguyên nội tại bao gồm những protein bất thường được sản xuất từ những khối u trong cơ thể hoặc là những protein của cơ thể bị biến đổi trở thành kháng nguyên hoà tan lưu hành trong máu kích thích cơ thể sản xuất kháng thể. Sự kết hợp giữa kháng nguyên - kháng thể tạo nên phức hợp miễn dịch. Trong trường hợp thừa kháng thể thì phức hợp miễn dịch có kích thước lớn sẽ bị tế bào lưới nội mô bắt giữ và tiêu huỷ loại khỏi tuần hoàn. Ngược lại, trong trường hợp thừa kháng nguyên thì phức hợp miễn dịch được tạo thành có kích thước nhỏ, có khả năng vượt qua sự kiểm soát của tế bào lưới nội mô lưu hành trong máu, lắng đọng tại cầu thn. Sự tương tác giữa kháng nguyên-kháng thể, sự lắng đọng phức hợp miễn dịch đã hoạt hoá hệ thống bổ thể, hệ thống đông máu, hệ thống kinin, hoạt hoá bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái kiềm, tế bào Mast nhằm mục đích loại phức hợp miễn dịch khỏi vòng tuần hoàn và dọn sạch các ổ lắng đọng phức hợp miễn dịch tại cầu thn. Hậu quả là:
+ Tăng tính thấm màng nền cầu thn do:
- Tác dụng của C3a và C5a.
- Tác dụng của histamin được giải phóng từ tế bào Mast.
- Tác dụng của bradykinin được hoạt hoá bởỉ yếu tố XII và men kininogenase.
+ Tăng đông máu: đông máu là một phản ứng tự vệ nhằm ngăn cản các yếu tố độc hại xâm nhập vào tổ chức chung quanh, nhưng trong viêm cầu thn nếu tăng đông máu quá mức dẫn đến tổn thương cầu thn. Các sản phẩm thoái hoá của fibrin (PDF: product degenerative fibrin) xuất hiện trong nước tiểu là minh chứng cho sự hình thành và lắng đọng fibrin trong cuộn mạch cầu thn.
+ Tăng hoá ứng động bạch cầu, thu hút bạch cầu đến ổ viêm, tăng quá trình thực bào, tăng tiêu huỷ bởi các men được giải phóng từ lyzosome, bradykinin, C5a, và NCF (neutrophil chemotaxicis factor). Đó là những chất hoá ứng động bạch cầu chủ yếu của ổ viêm. Bradykinin có tác dụng giãn mạch tăng tính thấm gấp 15 lần histamin.
+ Sự hoạt hoá của C5b kích thích quá trình kết dính của C7, C8 và C9 trên màng nền tế bào và màng nền cầu thn làm thay đổi cấu trúc của màng nền.
Hậu quả hoạt động của các hệ thống sinh học và của các tế bào đã gây tổn thương cầu thn với hiện tượng tăng sinh tế bào, phù nề, xuất tiết, hoại tử, xơ hoá cầu thn (xem sơ đồ 5 và sơ đồ 6).
Sơ đồ 5. Vai trò của bổ thể trong bệnh sinh của viêm cầu thn tiên phát

Sơ đồ 6. Vai trò của miễn dịch trong viêm cầu thn

4. Triệu chứng của viêm cầu thn mạn.
Triệu chứng viêm cầu thn mạn tính hết sức đa dạng, với những hình thái khác nhau. Có thể biểu hiện kín đáo chỉ có protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng; hoặc biểu hiện rầm rộ với các triệu chứng: phù to toàn thân, protein niệu nhiều, giảm protein máu, tăng lipit máu và không ít trường hợp biểu hiện của suy thn mạn tính giai đoạn mất bù. Triệu chứng chủ yếu của viêm cầu thn mạn tính là:
4.1. Phù:
Phù là một triệu chứng lâm sàng đặc trưng cho bệnh lý cầu thn, các loại bệnh thn khác không có phù. Chính vì vậy, khi xuất hiện phù không rõ căn nguyên là phải nghĩ đến phù do bệnh lý cầu thn, cần kiểm tra nước tiểu cẩn thn để xác định nguyên nhân của phù. Rất nhiều trường hợp, triệu chứng lâm sàng duy nhất của viêm cầu thn mạn là phù, có thể phù kín đáo không ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh nhân lao động làm việc, ăn ngủ sinh hoạt bình thường, thậm chí bệnh nhân không biết mình bị phù; nhưng có thể phù rất to: phù dưới da, quanh mắt cá trước xương chày, vùng cùng cụt, phù dưới da đầu; phù mềm ấn lõm rõ; có thể có cổ trướng, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tinh hoàn.
+ Cơ chế bệnh sinh của phù:
- Do tăng tính thấm của thành mạch, tăng tính thấm các hệ thống mao mạch ngoại vi.
- Ứ nước và muối do giảm mức lọc cầu thn, cường aldosteron thứ phát và tăng bài tiết ADH, kích thích ống thn tăng hấp thu muối và nước.
- Giảm áp lực keo của máu do giảm protein máu, giảm albumin máu dẫn đến rối loạn vận chuyển nước và muối, gây ứ nước và muối ở khoang gian bào.
4.2. Tăng huyết áp (THA):
Tăng huyết áp có thể xuất hiện bất kỳ giai đoạn nào của bệnh.
- Tăng huyết áp xuất hiện ngay từ đầu cùng với các triệu chứng của viêm cầu thn mạn tính, tăng huyết áp không thường xuyên, tăng từng đợt. Một số trường hợp tăng huyết áp xuất hiện sau một thời gian tiến triển của bệnh. Khi suy thn chưa xuất hiện, tăng huyết áp là một triệu chứng báo hiệu bệnh đang ở thời kỳ tiến triển, báo hiệu một đợt bột phát của bệnh, một quá trình tăng sinh phù nề xuất tiết ở cầu thn dẫn đến tăng tiết renin, hoạt hoá hệ thống RAA (renin angiotensin aldosterone).
Tăng huyết áp xuất hiện trong viêm cầu thn mạn tính có ý nghĩa về tiên lượng, tình trạng suy giảm chức năng và suy thn mất bù diễn ra sớm hơn so với những trường hợp viêm cầu thn mạn không có tăng huyết áp. Vì vậy, trong viêm cầu thn mạn tính cần phải theo dõi huyết áp thường xuyên và phải duy trì huyết áp ở mức bình thường bằng mọi biện pháp. Một số trường hợp tăng huyết áp là dấu hiệu mở đầu của suy thn mạn tính ở những bệnh nhân viêm cầu thn mạn tiềm tàng từ trước và ngoài tăng huyết áp còn thường xuất hiện tình trạng thiếu máu.
- Tăng huyết áp kéo dài gây tổn thương đáy mắt và dày đồng tâm thất trái, suy tim mạn tính; tăng huyết áp kịch phát gây suy tim cấp tính dẫn đến phù phổi cấp.
4.3. Thiếu máu:
Một bệnh nhân viêm cầu thn có thể có thiếu máu, da xanh, niêm mạc nhợt, hay chóng mặt, đau đầu, trí lực giảm. Thiếu máu xảy ra trong 2 trường hợp:
- Do bệnh lâu ngày kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm, kiêng khem một cách kham khổ, không dám ăn thịt, trứng, cá... dẫn đến thiếu máu do thiếu đạm, thiếu các yếu tố vi lượng; thiếu máu do thiếu sắt.Thiếu máu do thiếu dinh dưỡng thường là loại thiếu máu mức độ nhẹ và trung bình, ít khi thiếu máu nặng.
- Thiếu máu xuất hiện khi có suy thn mạn tính: 100% các trường hợp suy thn mạn tính đều có thiếu máu, mức độ thiếu máu phụ thuộc vào giai đoạn của suy thn. Ở bệnh viêm cầu thn mạn tính, vừa có tăng huyết áp vừa có thiếu máu, đó là những dấu hiệu của suy thân mất bù. Nguyên nhân của thiếu máu là do thiếu erythropoietin.
4.4. Những biến đổi ở nước tiểu:
Triệu chứng lâm sàng của viêm cầu thn mạn tính có khi rất nghèo nàn, đến nỗi bệnh nhân không biết mình bị bệnh nếu không làm xét nghiệm nước tiểu. Ngược lại biến đổi ở nước tiểu bao giờ cũng có và hằng định.
- Protein niệu trong 24 giờ gần như thường xuyên dương tính và giao động trong khoảng 0,5-3 g/ngày. Protein niệu (+++) thường gặp ở mẫu nước tiểu lúc sáng sớm mới ngủ dậy. Những mẫu nước tiểu kế tiếp sau đó có thể âm tính; protein niệu cách hồi. Vì vậy khi protein niệu (-) thì phải làm protein niệu 24h.
Số lượng protein niệu ít có giá trị về tiên lượng nhưng có ý nghĩa về chẩn đoán và là chỉ tiêu đánh giá kết quả điều trị.
- Hồng cầu niệu: 60- 80% viêm cầu thn mạn tính có hồng cầu niệu. Theo nhiều tác giả, hồng cầu niệu là một dấu hiệu chứng tỏ bệnh đang ở giai đoạn tiến triển. Ở bệnh nhân viêm cầu thn mạn tính, sau điều trị mà protein niệu âm tính nhưng hồng cầu niệu vẫn dương tính thì nguy cơ bệnh tái phát vẫn còn.
- Trụ niệu:
. Trụ trong là những protein khuôn theo lòng ống thân chưa thoái hoá hoàn toàn, giống như những sợi miến chín.
. Trụ sáp: là những protein niệu đã thoái hoá do môi trường toan của nước tiểu.
. Trụ hình hạt, trong đó có nhiều hạt nhỏ: trước đây người ta cho rằng trụ hình hạt là dấu hiệu đặc trưng của viêm cầu thn mạn tính. Một số tác giả cho rằng thành phần của trụ hình hạt là IgM. Hiện nay, người ta cho rằng các trụ trong, trụ sáp, trụ hình hạt là biểu hiện của protein niệu.
5. Các thể lâm sàng của viêm cầu thn mạn.
5.1. Thể tiềm tàng:
Biểu hiện lâm sàng bằng protein niệu và hồng cầu niệu nhưng không có triệu chứng lâm sàng. Bệnh có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm mà không có dấu hiệu nào khác. Bệnh nhân có thể lao động làm việc bình thường nhưng không có nghĩa là không nguy hiểm, cần phải thn trọng, phải có chế độ công tác, chế độ sinh hoạt hợp lý, điều trị protein niệu bằng các thuốc kháng tiểu cầu, nonsteroid và các thuốc ức chế men chuyển.
5.2. Thể tăng huyết áp (THA):
Triệu chứng tăng huyết áp chiếm ưu thế và hằng định, huyết áp 140/90 - 150/90, nhưng có thể có tăng huyết áp kịch phát. Thường kèm theo với protein niệu (++), hồng cầu niệu (+). Nếu ở bệnh nhân lớn tuổi (trên 40 tuổi) dễ nhầm với tổn thương thn do THA, xơ hoá tiểu động mạch thn - thn lành tính hoặc ác tính.
5.3. Thể suy thn:
Không có tiền sử viêm cầu thn. Bệnh nhân vào viện với bệnh cảnh lâm sàng của suy thn mạn tính: tăng huyết áp, thiếu máu, rối loạn tiêu hoá, buồn nôn và nôn; urê máu và creatinin máu tăng; trên siêu âm thấy hai thn teo nhỏ đồng đều. Hầu hết suy thn mạn mất bù do viêm cầu thn mạn tính xuất hiện ở lứa tuổi từ 20 đến 30 tuổi.
5.4. Thể có hội chứng thn hư (HCTH):
Mở đầu bệnh cảnh lâm sàng là hội chứng thn hư, cũng có thể HCTH xuất hiện sau protein niệu, HC niệu tiềm tàng không có triệu chứng lâm sàng đã có trước đó. Biểu hiện của HCTH là: phù to, protein niệu > 3,5g/ngày, protein máu < 60g/lít, albumin < 30g/lít, cholesterol tăng > 6,5 mmol/lít.
Hội chứng thn hư không đơn thuần mà thường kèm theo hồng cầu niệu, tăng huyết áp, tăng urê máu, tăng creatinin, protein niệu không chọn lọc.
Hội chứng thn hư đơn thuần do viêm cầu thn mạn ít gặp, nhưng không hiếm gặp trong quá trình tiến triển của bệnh.Viêm cầu thn mạn tính biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng thn hư thường có tiên lượng xấu.
6. Chẩn đoán:
Chẩn đoán viêm cầu thn mạn tính phải dựa vào 4 triệu chứng chủ yếu như sau:
- Phù.
- Protein niệu.
- Hồng cầu niệu.
- Tăng huyết áp.
Có 2 triệu chứng bắt buộc là protein niệu và hồng cầu niệu. Khi chẩn đoán viêm cầu thn mạn tính phải dựa vào điều kiện sau:
- Gặp ở người trưởng thành (trên, dưới 20 tuổi).
- Không rõ căn nguyên.
- Bệnh kéo dài trên 6 tháng.
- Tăng urê và creatinin .
Viêm cầu thn mạn tính thường có tiên lượng xấu, tiên lượng phụ thuộc vào thời gian bị bệnh, có hay không có hội chứng thn hư, tình trạng THA, phụ thuộc nguyên nhân của bệnh và các bệnh kết hợp. Suy thn mạn tính xuất hiện sau 10-20 năm kể từ lúc bị bệnh.
7. Điều trị.
7.1. Điều trị triệu chứng:
+ Chống nhiễm khuẩn: nhiễm khuẩn có thể là nguồn cung cấp kháng nguyên hoặc là yếu tố khởi phát, vì vậy sử dụng kháng sinh là cần thiết. Dùng kháng sinh ít độc tính với thn, dùng đường uống là chủ yếu. Các kháng sinh thường dùng là: ampicilline, erythromycine, rovamycine. Thời gian dùng kháng sinh từ 7 đến 10 ngày.
+ Điều trị phù: dùng các thuốc lợi tiểu quai (như lasix, furosemide):
Lasix 40 mg x 2- 4 v/ngày, tuỳ theo khối lượng nước tiểu 24 giờ để điều chỉnh liều lasix cho hợp lý, lượng nước tiểu 24 giờ phải trên 1000 ml, nếu lượng nước tiểu ít hơn phải tăng liều lợi tiểu.
+ Điều trị tăng huyết áp: phải sử dụng các thuốc hạ áp không ảnh hưởng đến chức năng thn, các nhóm thuốc thường dùng là:
- Thuốc ức chế canxi: dùng một trong những thuốc sau:
. Adalat L.A 30mg x 1-2 v/ngày.
. Amlor 5 mg x 1-2 v/ngày.
. Plendil 5 mg x 1-2 v/ngày.
. Madiplot 10 mg x 1-2 v/ngày.
- Thuốc ức chế bêta: dùng một trong những thuốc sau:
. Tenormin 50 mg x 2-4 v/ngày.
. Concor 5 mg x 1-2 v/ngày.
. Dilatrend 25 mg x 1-2 v /ngày.
- Lợi tiểu quai: lasix.
Có thể kết hợp hai loại thuốc lợi tiểu khác nhóm, thn trọng khi sử dụng các thuốc ức chế men chuyển, resecpin, guanethidin, hypothazid.
7.2. Corticoid liệu pháp và các thuốc ức chế miễn dịch:
7.2.1. Chỉ định:
- Viêm cầu thn mạn tiên phát có hội chứng thn hư.
- Tổn thương thn trong các bệnh hệ thống: luput ban đỏ hệ thống, viêm da-cơ, bệnh tổ chức liên kết hỗn hợp.
- Các bệnh mạch máu: viêm mạch máu dạng nút, bệnh u hạt Wegener.
- Hội chứng Goodpasturê.
- Viêm cầu thn tăng sinh ngoài mao mạch.
7.2.2. Các thuốc và liều dùng:
+ Corticoid:
- Prednisolon 1-1,5 mg/kg/ngày, uống 1 lần sau khi ăn sáng (6-7giờ sáng), dùng kéo dài cho đến lúc protein niệu âm tính hoặc protein niệu dưới 0,5 g/ngày, sau đó giảm liều dần; thời gian điều trị là 6 tháng.
- Methylprednisolon liều 1000 mg/ngày, tiêm truyền tĩnh mạch, mỗi đợt dùng 3 ngày, mỗi tháng dùng một đợt, có thể dùng trong 6 tháng.
+ Các thuốc ức chế miễn dịch:
- Cyclophosphamide.
. Đường uống: 2-3 mg/kg/ngày x 12 tuần. Một lần.
. Đường tiêm truyền tĩnh mạch: 500-700 mg/m2/ngày, mỗi tháng tiêm truyền
- Azathioprin 2- 4 mg/kg/ngày x 12 tuần.
- 6-mercaptopurine: 2- 4 mg/kg/ngày x 12 tuần.
Người ta thường kết hợp 1 loại thuốc corticoid với 1 loại thuốc ức chế miễn dịch. Ngoài các thuốc corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch, người ta còn sử dụng các thuốc kháng tiểu cầu (persantine-dipyridamole), thuốc chống đông (heparin), các thuốc tiêu fibrine (urokinase, streptokinase).

Submit "Viêm cầu thận mạn tính" to Digg Submit "Viêm cầu thận mạn tính" to del.icio.us Submit "Viêm cầu thận mạn tính" to StumbleUpon Submit "Viêm cầu thận mạn tính" to Google Submit "Viêm cầu thận mạn tính" to Facebook Submit "Viêm cầu thận mạn tính" to Twitter Submit "Viêm cầu thận mạn tính" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Thận - Tiết niệu

Bình luận

# Đăng bình luận qua Facebook