Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu - Bài viết - Bệnh Học
Đọc và ngẫm: "Thấy bệnh dễ chữa nói dối là khó chữa, dọa người ta sợ để lấy nhiều tiền, đó là tội lừa dối. [Trích 8 tội cần tránh - Lê Hữu Trác] "
Chú ý: Các nội dung sai QUY ĐỊNHLuật chính tả sẽ bị XÓA
Nếu bạn đang gởi bài, hãy đọc qua bài này!

QuocBaoNet

Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu

Rating: 2 votes, 5.00 average.
Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu
TS. Hà Hoàng Kiệm (Bệnh học nội khoa HVQY)
1. Triệu chứng lâm sàng.
1.1. Triệu chứng cơ năng:
1.1.1. Đau:
Có thể gặp đau ở vùng thắt lưng, đau ở vùng niệu quản, đau ở vùng bàng quang.
1.1.1.1. Đau ở vùng thắt lưng:
* Cơn đau quặn thân:
+ Cơn đau quặn thân là cơn đau điển hình trong một số bệnh của thân và đường niệu, cơn đau có đặc điểm:
. Khởi phát đau: thường xuất hiện sau vận động mạnh, sau chấn thương vùng thắt lưng, tuy nhiên cũng có thể xuất hiện cả lúc nghỉ ngơi.
. Cường độ đau: đau thường dữ dội thành từng cơn, cơn có thể ngắn 20-30phút có thể kéo dài nhiều giờ hoặc cả ngày. Không có tư thế giảm đau.
. Vị trí và hướng lan của đau: đau thường xuất phát ở vùng thắt lưng, lan ra phía trước xuống vùng bàng quang, xuống bìu (ở nam) hoặc bộ phận sinh dục ngoài (ở nữ). Thông thường chỉ đau một bên, trong cơn đau có thể có buồn nôn hoặc nôn. ấn điểm sườn-thắt lưng và vỗ hố thắt lưng bệnh nhân rất đau.
. Diễn biến của cơn đau: cơn đau thường kết thúc từ từ, nhưng cũng có khi kết thúc đột ngột. Sau cơn đau thường có đái ra máu đại thể hay vi thể, có thể có rối loạn tiểu tiện như: đái khó, đái rắt, đái buốt. Cơn đau quặn thân thường hay tái phát.
Trên đây là cơn đau điển hình, trong lâm sàng có những thể không điển hình, chỉ đau thoáng qua hoặc ngược lại đau kéo rất dài từ một ngày đến 2-3 ngày.
+ Chẩn đoán cơn đau quặn thân dựa vào: đau đột ngột dữ dội vùng thắt lưng lan xuống bìu và bộ phận sinh dục ngoài; đái ra máu đại thể hoặc vi thể; có các điểm đau vùng thân và niệu quản; tiền sử có thể đã có những cơn đau quặn thân hoặc đái ra sỏi.
+ Chẩn đoán phân biệt: chẩn đoán cơn đau quặn thân điển hình thường dễ nhưng cũng cần chẩn đoán phân biệt với các trường hợp:
- ở bên phải hay nhầm với:
. Cơn đau quặn gan: đau ở vùng hạ sườn phải lan lên vai, sau cơn đau có sốt, vàng da; khám vùng gan và túi mật đau, dấu hiệu Murphy (+).
. Đau ruột thừa: đau vùng hố chậu phải, có sốt, có bạch cầu trong máu tăng, ấn điểm
Macburney đau.
- ở bên trái hay nhầm với:
. Cơn đau thắt ngực: cơn đau thắt ngực không điển hình không lan lên vai và cánh tay mà lan xuống bụng; điện tim trong cơn có hình ảnh thiếu máu cơ tim; cho ngậm nitroglyxerin thì cơn đau hết nhanh.
- Chung cho cả hai bên có thể nhầm với:
. Cơn đau do loét dạ dày, thủng dạ dày: đau ở vùng thượng vị không lan xuống dưới, có thể lan ra sau lưng, ấn điểm thượng vị đau. Nếu thủng dạ dày thì có phản ứng thành bụng, bụng cứng như gỗ, gõ vang vùng trước gan. Tiền sử có thể có hội chứng loét dạ dày- hành tá tràng; chụp X quang ổ bụng thấy có liềm hơi.
. Viêm tuỵ chảy máu, hoại tử: đau rất dữ dội vùng thượng vị, buồn nôn, nôn; điểm thượng vị và điểm sườn-cột sống đau; người bệnh trong tình trạng sốc: vã mồ hôi, mặt tái, huyết áp hạ; nồng độ amylaza trong máu tăng rất cao.
. Tắc ruột: đau bụng, nôn, bí trung tiện, bí đại tiện, bụng chướng hơi, có triệu chứng rắn bò, X quang có mức nước-mức hơi.

+ Cơ chế của cơn đau quặn thân: tắc đường dẫn nước tiểu đột ngột do sỏi di chuyển, hoặc do sỏi kích thích gây co thắt niệu quản, làm ứ nước tiểu ở đài-bể thân, gây tăng áp lực trong thân vì thân được bao bọc một vỏ xơ. Khi đường dẫn nước tiểu lưu thông (chẳng hạn sỏi di chuyển làm nước tiểu có thể lọt qua được, áp lực trong bể thân giảm xuống), cơn đau giảm hoặc hết.
+ Nguyên nhân: chẩn đoán nguyên nhân cơn đau quặn thân đôi khi khó, các nguyên nhân thường gặp là:
. Sỏi thân và đường niệu: sỏi ở đài-bể thân ít khi gây cơn đau quặn thân; sỏi niệu quản thường gây cơn đau quặn thân điển hình. Đây là nguyên nhân thường gặp nhất của cơn đau quặn thân.
. Lao thân: có tới 20% trường hợp lao thân có cơn đau quặn thân do các mảnh tổ chức, tổ chức bã đậu trôi theo dòng nước tiểu xuống gây tắc niệu quản. Cũng có thể do lao niệu quản gây chít hẹp niệu quản,
. Các nguyên nhân gây hẹp niệu quản khác như: thân di động dễ dàng gây gập niệu quản, u vùng bể thân-niệu quản, u trong ổ bụng đè ép vào niệu quản đều có thể gây ra cơn đau quặn thân.
* Đau âm ỉ vùng hố thắt lưng:
Đau vùng hố thắt lưng âm ỉ, không thành cơn hoặc chỉ có cảm giác nặng tức vùng hố thắt lưng. Loại đau này thường là đặc điểm của các bệnh thân hai bên như viêm cầu thân cấp, viêm cầu thân mạn, hội chứng thân hư, viêm tấy tổ chức quanh thân. Viêm thân-bể thân cấp hoặc đợt tiến triển của viêm thân-bể thân mạn thường chỉ đau âm ỉ một bên, nhưng cũng có thể đau cả hai bên. Đau thường không lan xuyên, chỉ khu trú tại chỗ.
Nếu viêm mủ quanh thân thì đau có thể kèm theo nóng, đỏ, phù nề vùng hố thắt lưng.
1.1.1.2. Đau ở các điểm niệu quản:
Ngoài nguyên nhân do cơn đau quặn thân, đau ở các điểm niệu quản còn có thể gặp khi có sỏi niệu quản, viêm niệu quản, lao niệu quản và thường liên quan với các quá trình bệnh lý ở thân và bàng quang.

1.1.1.3. Đau ở vùng bàng quang:
Đau ở vùng bàng quang thường gặp do sỏi bàng quang, viêm bàng quang, lao bàng quang, bệnh lý của tuyến tiền liệt. Đau ở vùng bàng quang thường kèm theo các rối loạn bài niệu: đái rắt, đái buốt.
1.1.1.4. Đau do trào ngược nước tiểu bàng quang-niệu quản:
Đây là thể đau đặc biệt, thường gặp ở trẻ em do suy yếu cơ thắt chỗ niệu quản đổ vào bàng quang, thường là bẩm sinh. Người bệnh thấy đau vùng hố thắt lưng một hoặc hai bên khi rặn đái, đau mất đi khi đái xong.
Cơ chế của cơn đau này là do: khi rặn đái, áp lực trong bàng quang tăng lên do cơ vòng chỗ niệu quản đổ vào bàng quang yếu, nên nước tiểu từ bàng quang trào ngược lên niệu quản, làm tăng
áp lực bể thân gây nên đau. Đau thường nhẹ, âm ỉ, bệnh nhân chịu đựng được, nhưng đôi khi đau nhiều làm bệnh nhân không dám rặn đái. Đái xong áp lực trong bàng quang giảm xuống, nước tiểu từ niệu quản xuống bàng quang, bệnh nhân hết đau.
Để xác định chẩn đoán, cho chụp X quang bàng quang sau khi bơm thuốc cản quang vào bàng quang (150-200ml) ở các thời điểm trước, trong và sau khi rặn đái. Kết quả sẽ cho thấy thuốc cản quang trào lên niệu quản khi rặn đái.
1.1.2. Rối loạn bài niệu:
+ Đái dắt:
Đái dắt là hiện tượng phải đi đái nhiều lần trong ngày, số lượng nước tiểu mỗi lần ít chỉ vài mililít. Đái dắt có thể do bệnh lý ở bàng quang, tiền liệt tuyến, niệu đạo, niệu quản hoặc ở thân gây kích thích mót đái; cũng có thể chỉ là hậu quả của các bệnh lý của các cơ quan lân cận của cơ quan sinh dục nữ.
+ Đái buốt:
Đái buốt là hiện tượng khi đi đái tới cuối bãi, bệnh nhân thấy buốt ở vùng hạ vị lan ra dương vật (ở nam) hoặc bộ phận sinh dục ngoài (ở nữ). Đái buốt thường đi kèm với đái rắt. Nguyên nhân có thể do viêm bàng quang, lao bàng quang, viêm niệu đạo do vi khuẩn hoặc do lậu, sỏi bàng quang.
+ Đái khó:
Đái khó là hiện tượng phải rặn mới đái được, nước tiểu chảy chậm không thành tia, có khi đái ngắt quãng. Đái khó chứng tỏ có cản trở ở vùng cổ bàng quang như: u vùng cổ bàng quang, u tuyến tiền liệt; hoặc cản trở ở niệu đạo như: sỏi niệu đạo, chít hẹp niệu đạo do viêm, do chấn thương.
+ Bí đái:
Bí đái là trường hợp không đái được trong khi nước tiểu vẫn được bài tiết từ thân xuống và bị ứ lại ở bàng quang. Phải chú ý phân biệt với vô niệu: vô niệu là không có nước tiểu từ thân xuống bàng quang, không có nước tiểu trong bàng quang nên không có cầu bàng quang và thông đái không
có nước tiểu; còn bí đái là nước tiểu bị ứ ở bàng quang nên có cầu bàng quang, thông đái có nhiều nước tiểu và cầu bàng quang xẹp xuống.
+ Đái không tự chủ:
Đái không tự chủ là hiện tượng nước tiểu tự động chảy ra, ngoài ý muốn của bệnh nhân. Đái không tự chủ có thể do nguyên nhân tại bàng quang hay niệu đạo (như chấn thương vùng bàng quang hay niệu đạo); có thể do nguyên nhân từ tuỷ sống (như chấn thương hoặc vết thương gây tổn thương các đốt tuỷ cùng); cũng có thể do bệnh nhân bị bí đái kéo dài làm thành bàng quang không còn khả năng co dãn, bàng quang trở thành một “bình” chứa nước tiểu trong khi nước tiểu tiếp tục
được bài tiết từ thân xuống, do đó nước tiểu từ bàng quang chảy ra theo niệu đạo từng giọt và luôn có cầu bàng quang.
+ Đái đêm:
Đái đêm được coi là bệnh lý khi bệnh nhân phải đi đái nhiều lần trong đêm và kéo dài nhiều tháng. Đái đêm là biểu hiện của giảm khả năng cô đặc nước tiểu của thân. Khi làm nghiệm pháp Zimniski thấy số lượng nước tiểu ban đêm nhiều hơn ban ngày.
Đái đêm thường gặp trong các bệnh gây giảm khả năng cô đặc nước tiểu của thân (như viêm thân-bể thân mạn, viêm thân kẽ mạn do thuốc, suy thân mạn...), hoặc ở người già do khả năng cô
đặc nước tiểu của thân bị suy giảm.
1.2. Triệu chứng thực thể:
1.2.1. Phù do thân:
Phù là triệu chứng sớm và thường gặp của các bệnh cầu thân. Phù do thân có đặc điểm là xuất hiện đầu tiên ở mi mắt (vì mi mắt có nhiều tổ chức lỏng lẻo, áp lực trong tổ chức thấp), mặt rồi mới phù toàn thân. Phù nặng hơn vào buổi sáng, phù trắng, mềm, ấn lõm, tăng lên khi ăn mặn và giảm khi ăn nhạt.
Tuỳ theo từng bệnh thân, phù có thể có những biểu hiện khác nhau. Viêm cầu thân cấp hoặc mạn thì phù thường ở mức độ trung bình. Trong hội chứng thân hư thì phù tiến triển nhanh và nặng, có thể có tràn dịch màng bụng, màng phổi, màng tinh hoàn, màng tim. Bệnh của ống-kẽ thân thường không có phù, phù chỉ xuất hiện khi có suy thân nặng hoặc suy tim do tăng huyết áp.
1.2.2. Thân to:
+ Chẩn đoán thân to khi có khối u ở vùng thân, dấu hiệu chạm thắt lưng dương tính, bập bềnh thân dương tính. Thân to thường kèm theo các triệu chứng khác như: đái ra máu, đái ra mủ, đau vùng hố thắt lưng.
+ Để chẩn đoán xác định thân to cần làm các xét nghiệm cận lâm sàng như: siêu âm thân, chụp bơm hơi sau phúc mạc, chụp thân có tiêm thuốc cản quang vào tĩnh mạch (UIV), chụp bể thân có bơm thuốc cản quang ngược dòng, chụp CT- scanner, chụp MRI.
+ Nguyên nhân thân to có thể do:
- ứ nước, ứ mủ bể thân: nguyên nhân của ứ nước, ứ mủ bể thân có thể do sỏi đài-bể thân, sỏi niệu quản, khối u của niệu quản hay u trong ổ bụng đè ép vào niệu quản, lao bể thân-niệu quản gây chít hẹp niệu quản.
- Thân nang: có thể nang đơn một bên hoặc cả hai bên, có thể thân đa nang, bệnh nang tuỷ thân... Sờ thấy bề mặt thân lổn nhổn không đều. Siêu âm là phương pháp rất có giá trị để chẩn đoán các bệnh thân có nang.
- Ung thư thân: thường gặp ở người già; thân to, cứng, thường kèm theo đái ra máu.

1.2.3. Thay đổi số lượng nước tiểu:
ở người lớn bình thường, khi uống lượng nước trung bình theo nhu cầu của cơ thể thì số lượng nước tiểu trung bình một ngày khoảng 800-1800ml. Thay đổi số lượng nước tiểu tuỳ theo mức độ như sau:
+ Vô niệu:
- Khi số lượng nước tiểu < 100ml/24giờ thì được gọi là vô niệu. Chỉ có vô niệu bệnh lý, không có vô niệu sinh lý. Vô niệu là trạng thái bệnh lý rất nặng, gây ra nhiều rối loạn nội môi và đe doạ tính mạng bệnh nhân.
- Nguyên nhân: có thể gặp vô niệu do suy thân cấp, đợt tiến triển của suy thân mạn, giai đoạn cuối của suy thân mạn.
+ Đái ít (thiểu niệu):
Khi số lượng nước tiểu từ 100 đến < 500ml/24giờ thì được gọi là đái ít. Đái ít có thể do sinh lý hay do các bệnh lý ngoài thân hoặc các bệnh lý của thân. Người ta chia đái ít ra làm hai loại:
- Đái ít, nước tiểu có nồng độ các chất hoà tan cao: nước tiểu thường xẫm màu; tỉ trọng nước tiểu cao trên 1,020; độ thẩm thấu nước tiểu cao trên 600mOsm/kg H2O; nồng độ urê trong nước tiểu cao. Nguyên nhân thường do uống ít nước, do tình trạng mất nước của cơ thể, do suy thân chức năng...
- Đái ít, nước tiểu có nồng độ các chất hoà tan thấp: nước tiểu thường nhạt màu; tỉ trọng nước tiểu thấp; độ thẩm thấu nước tiểu thấp; nồng độ urê trong nước tiểu thấp. Nguyên nhân thường do suy thân cấp thực thể hay suy thân mạn.
+ Đái nhiều (đa niệu):
Khi lượng nước tiểu lớn hơn 2000ml/24giờ thì được gọi là đái nhiều.
Nguyên nhân của đái nhiều thường là do uống quá nhiều nước; giai đoạn hồi phục của một số bệnh nhiễm trùng (như viêm gan virut cấp); là triệu chứng của một số bệnh nội tiết (như đái tháo nhạt, đái tháo đường); do một số bệnh thân có giảm khả năng cô đặc nước tiểu của thân (như: giai
đoạn đái trở lại của suy thân cấp), các bệnh của ống-kẽ thân (như viêm thân-bể thân mạn); một số bệnh nhân suy thân mạn...
1.2.4. Thay đổi màu sắc nước tiểu:
1.2.4.1. Nước tiểu màu đỏ đến nâu thẫm:
* Đái ra máu đại thể:
- Đái ra máu đại thể là đái ra máu với số lượng nhiều, đủ để làm thay đổi màu sắc nước tiểu. Nước tiểu có màu hồng cho đến màu đỏ, khi để lâu thì hồng cầu sẽ lắng xuống dưới. Lượng máu tối thiểu bắt đầu làm thay đổi màu sắc nước tiểu vào khoảng 1ml máu cho 1lít nước tiểu.
+ Để chẩn đoán vị trí chảy máu có thể nhận định sơ bộ bằng nghiệm pháp 3 cốc.
Cách làm nghiệm pháp 3 cốc như sau: cho bệnh nhân đái một bãi chia làm 3 phần tương đối bằng nhau, lần lượt vào 3 cốc thuỷ tinh. Nếu lượng máu nhiều nhất ở cốc đầu tiên thì thường là chảy máu ở niệu đạo. Lượng máu nhiều nhất ở cốc thứ 3 thì thường là chảy máu ở bàng quang. Lượng máu tương đương nhau ở cả 3 cốc thì thường chảy máu từ thân hoặc niệu quản. Tuy nhiên, nghiệm pháp này chỉ có tính chất tương đối, vì nếu chảy máu nhiều ở bàng quang hay niệu đạo đều có thể gây đái ra máu toàn bãi, cả 3 cốc có màu đỏ tương đương nhau.
+ Muốn xác định chính xác vị trí chảy máu, có thể soi bàng quang trong thời gian bệnh nhân
đái ra máu. Khi soi bàng quang có thể thấy máu đang chảy từ thành bàng quang, hoặc thấy dòng nước tiểu có màu đỏ phụt từng đợt từ lỗ niệu quản xuống bàng quang theo nhịp co bóp của niệu quản.
+ Nguyên nhân đái ra máu có thể do các bệnh của thân (như viêm cầu thân cấp, bệnh thân IgA, ung thư thân, chấn thương thân); có thể do bệnh của đường niệu (như sỏi đài bể thân, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, viêm bàng quang, ung thư bàng quang...); có thể do các bệnh toàn thân (như bệnh của hệ thống tạo máu, do rối loạn quá trình đông máu). Có thể gặp (khoảng 1% số bệnh nhân) đái ra máu không xác định được nguyên nhân.
* Cần phải chẩn đoán phân biệt đái ra máu với đái ra hemoglobin, đái ra myoglobin và đái ra porphyrin.
+ Đái ra hemoglobin:
- Đái ra hemoglobin còn gọi là đái ra huyết cầu tố. Nước tiểu có màu đỏ hoặc xẫm đen, khi để lâu hoặc ly tâm không có lắng cặn hồng cầu. Soi dưới kính hiển vi không có hồng cầu trong nước tiểu.
- Đái ra hemoglobin không phải do bệnh lý tại thân mà do tan máu. Bình thường chỉ có 1-4mg
hemoglobin/100ml huyết thanh, trong nước tiểu không có hemoglobin. Khi có tan máu cấp, hemoglobin từ hồng cầu giải phóng vào huyết tương với số lượng lớn, gan không chuyển hoá kịp thành bilirubin, nó được đào thải nguyên dạng ra nước tiểu.
- Nguyên nhân đái ra hemoglobin:
. Sốt rét ác tính đái ra huyết cầu tố (thường do Plasmodium falciparum).
. Nhiễm khuẩn (thường do Clostridium perfringens).
. Nhiễm độc hoá chất (như asenic), nọc độc các loại rắn, một số thuốc (như amphotericin...).
. Truyền nhầm nhóm máu gây tan máu cấp.
. Đái ra hemoglobin kịch phát do lạnh (hiếm gặp): sau nhiễm lạnh, bệnh nhân thấy rét run,
đau bụng, đau vùng thắt lưng, đau các bắp cơ và đái ra hemoglobin.
. Đái ra hemoglobin kịch phát ban đêm: gặp ở bệnh nhân có hội chứng Marchiafara-Micheli với biểu hiện từng đợt đái ra hemoglobin kịch phát ban đêm, thường gặp ở tuổi 30-40.
. Đái ra hemoglobin do vận động: vận động bất thường kéo dài như chạy xa ở người chưa quen luyện tập. Sau luyện tập thấy đái ra hemoglobin; hồng cầu trong máu có hình thể bình thường.
. Đái ra hemoglobin do thuốc có thể gặp ở người thiếu men G6PD.
+ Đái ra myoglobin:
Giống như đái ra hemoglobin, nước tiểu có màu đỏ hoặc xẫm đen, khi để lâu hoặc ly tâm không có lắng cặn hồng cầu. Soi dưới kính hiển vi không có hồng cầu trong nước tiểu.
Myoglobin là sản phẩm thoái biến của cơ. Đái ra myoglobin xảy ra khi dập nát cơ nhiều (như trong hội chứng vùi lấp). Đái ra myoglobin nguyên phát, bẩm sinh đôi khi có tính chất gia đình. Bệnh nhân thấy đau cơ, có protein niệu ít, có hồng cầu niệu, có myoglobin niệu, có thể có vô niệu.
+ Đái ra porphyrin:
- Lúc đầu nước tiểu có màu đỏ xẫm giống như đái ra máu, nhưng sau vài giờ nước tiểu xẫm lại do bị oxy hoá. Khi để lâu hoặc quay ly tâm, không thấy có lắng cặn hồng cầu. Xét nghiệm nước tiểu có porphyrin.
- Porphyrin được tạo ra trong cơ thể chủ yếu do tổng hợp từ glucocol và axít sucinic, một phần
được tạo ra do phân huỷ hemoglobin và myoglobin. Porphyrin được đào thải qua nước tiểu dưới dạng porphyrinogen, sau đó bị ôxy hoá để tạo thành porphyrin. Bình thường ở người lớn mỗi ngày
đào thải khoảng 75 mg porphyrin, với số lượng này không đủ làm thay đổi màu sắc nước tiểu.
- Chứng porphyrin niệu có những đợt cấp tính trở thành một cấp cứu, vì có thể gây tử vong do liệt hô hấp. Biểu hiện lâm sàng là có cơn đau bụng cấp, liệt vận động, đôi khi có cả liệt hô hấp xuất hiện sau cơn đau bụng vài ba ngày. Chứng porphyrin niệu là biểu hiện của một số bệnh gia truyền về rối loạn chuyển hoá làm sản xuất ra nhiều porphyrin và các chất tiền thân của porphyrin trong cơ
thể.
- Cơ chế bệnh là do thiếu một trong các enzym (có khoảng 8 enzym) tham gia vào tổng hợp Hem trong quá trình tạo hồng cầu. Thiếu một trong các enzym này sẽ gây ra một trong 3 chứng porphyrin sau: chứng porphyrin gan, chứng porphyrin do rối loạn tạo hồng cầu, chứng porphyrin phối hợp.
1.2.4.2. Nước tiểu có màu đục:
+ Đái ra mủ:
- Nếu mủ nhiều có thể nhận thấy bằng mắt thường, nước tiểu có màu đục bẩn, có nhiều sợi mủ,
để lâu mủ lắng xuống thành một lớp ở dưới. Nếu mủ ít thì nước tiểu đục trắng, có các dây mủ lởn vởn. Xét nghiệm nước tiểu thấy có nhiều tế bào mủ là các bạch cầu đa nhân thoái hoá.
- Để phân biệt với đái đục do cặn phosphat, cho vào nước tiểu vài giọt axít acetic hoặc đem đun sôi nước tiểu. Nếu đái ra mủ thì nước tiểu vẫn giữ nguyên màu đục, nếu đái ra cặn phosphat thì cặn phosphat tan và nước tiểu trở nên trong.
- Nguyên nhân: do nhiễm khuẩn thân hoặc đường niệu, có thể chia thành hai nhóm:
. Nhiễm khuẩn thân và bể thân: viêm mủ bể thân, lao thân, thân đa nang bị bội nhiễm, ung thư thân bị bội nhiễm.
. Nhiễm khuẩn đường niệu: viêm niệu đạo do lậu hoặc do các vi khuẩn khác, viêm hoặc áp xe tiền liệt tuyến, viêm bàng quang.
Nếu số lượng mủ trong nước tiểu ít thì không làm đục được nước tiểu, chỉ phát hiện được khi soi dưới kính hiển vi gọi là đái ra mủ vi thể. Để phát hiện đái ra mủ vi thể, tốt nhất là làm xét nghiệm căn Addis.
+ Đái ra phosphat:
- Nước tiểu đục, nếu để lâu thì cặn phosphat lắng xuống. Nhỏ vài giọt axít acetic vào thì nước tiểu trở nên trong. Nếu nước tiểu vẫn đục thì có thể là đái ra mủ, đái ra dưỡng chấp hoặc các muối khác (như oxalat hay urat). Xét nghiệm nước tiểu thấy có nhiều cặn phosphat.
- Nguyên nhân: sốt cao kéo dài, sau các căng thẳng về thần kinh, sau động kinh, suy nhược thần
kinh. Nếu đái ra phosphat kéo dài thường do rối loạn chuyển hoá.
- Bình thường cơ thể bài tiết khoảng 30mg phosphat/1lít nước tiểu, nếu trên 50mg/lít nước tiểu là có đái ra phosphat. Nếu đái ra phosphat kéo dài có thể dẫn đến sỏi đường niệu.
+ Đái ra dưỡng chấp:
- Nước tiểu đục như sữa hoặc như nước vo gạo, nếu kèm theo đái ra máu thì nước tiểu có màu chocolat. Khi để lâu thì nước tiểu sẽ tạo thành 3 lớp: lớp trên đông như thạch, lớp giữa có màu trắng sữa, lớp cuối là cặn (gồm những hạt mỡ, tế bào biểu mô, bạch cầu). Khi nhỏ ether vào thì dưỡng chấp tan làm nước tiểu trong lại. Xét nghiệm sinh hoá thấy có nhiều lipit, một phần protein và fibrin.
- Nước tiểu bình thường không có dưỡng chấp, chỉ đái ra dưỡng chấp khi có một lỗ dò từ bạch mạch vào đường niệu, thường là vào vùng đài-bể thân, ít khi ở niệu quản hay bàng quang. Có thể thấy được đường thông giữa bạch mạch với đường niệu bằng cách chụp X quang hệ bạch mạch, hoặc chụp bể thân có bơm thuốc cản quang ngược dòng.
- Nguyên nhân: có thể do giun chỉ W. bancrofti, nhưng thực tế hiếm khi tìm thấy ấu trùng giun chỉ ở người đái ra dưỡng chấp. Có thể do giun đũa, sán Echinococcose, do viêm nhiễm, do khối u gây chèn ép làm tăng áp lực hệ bạch mạch, do chấn thương.
- Đái ra dưỡng chấp có thể xuất hiện sau một gắng sức mạnh, nhưng cũng có thể tự phát không liên quan với vận động. Sau khi ăn vài giờ, nhất là các bữa ăn có nhiều mỡ sẽ thấy nước tiểu đục tăng lên do lượng dưỡng chấp trong nước tiểu tăng.
- Đái ra dưỡng chấp nói chung là lành tính, ít ảnh hưởng đến sức khoẻ. Bệnh có thể kéo dài vài tháng rồi tự mất đi một cách đột ngột.
2. Các xét nghiệm cận lâm sàng chẩn đoán bệnh của hệ thống thân-tiết niệu.
Biểu hiện lâm sàng của nhiều bệnh thuộc hệ thống thân-tiết niệu thường nghèo nàn và không
đặc hiệu. Các xét nghiệm cận lâm sàng giúp ích rất nhiều cho chẩn đoán, trong nhiều trường hợp các xét nghiệm có giá trị chẩn đoán xác định. Các xét nghiệm chẩn đoán các bệnh thuộc hệ thống thân- tiết niệu có rất nhiều. Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ trình bày các xét nghiêm thông thường
được sử dụng trong lâm sàng.
2.1. Phân tích thành phần sinh hoá của máu:
2.1.1. Urê :
- Urê là một nitơ phi protein trong máu, có phân tử lượng 60,1; là sản phẩm của chuyển hoá
đạm và được đào thải chủ yếu qua thân. Nồng độ urê máu bình thường là 1,7-8,3 mmol/l (10-
50mg/l). Khi có suy thân (mức lọc cầu thân <60ml/ph) thì nồng độ urê trong máu tăng.
- Mức độ tăng urê trong máu không hoàn toàn tương ứng với mức độ nặng của suy thân, vì có nhiều yếu tố ngoài thân ảnh hưởng tới nồng độ urê trong máu (như: chế độ ăn nhiều protein, sốt, có ổ mủ trong cơ thể, chảy máu đường tiêu hoá...).
- Bản thân urê máu ít độc, nhưng urê đại diện cho các nitơ phi protein trong máu khác rất độc với cơ thể như: các hợp chất của guanidin, các chất có phân tử lượng trung bình... Các chất này bị ứ
đọng trong máu và tăng song song với urê máu ở bệnh nhân suy thân mạn. Vì urê dễ định lượng, nên trong lâm sàng, định lượng urê trong máu thường được sử dụng để đánh giá và theo dõi mức độ suy thân.
2.1.2. Creatinin:
- Creatinin cũng là một nitơ phi protein trong máu, là sản phẩm thoái biến của creatin; creatinin không độc, có nồng độ ổn định trong máu và được đào thải qua thân. Nồng độ bình thường trong
máu của creatinin là 44-106àmol/l (0,5-1,5mg/dl).
- Nồng độ creatinin trong máu không phụ thuộc vào chế độ ăn và các thay đổi sinh lý khác mà chỉ phụ thuộc vào khối lượng cơ của cơ thể (khối lượng cơ của một cá thể rất ít thay đổi từ ngày này qua ngày khác). Khi có suy thân thì creatinin trong máu tăng. Mức độ tăng creatinin trong máu tương ứng với mức độ nặng của suy thân. Vì vậy, nồng độ creatinin trong máu phản ánh chức năng thân tốt hơn nồng độ urê máu.
2.1.3. Protein:
- Bình thường, nồng độ protein toàn phần trong huyết thanh là 60-80g/l; trong đó albumin 45-
55g/l, globulin 25-35g/l , tỷ lệ albumin/globulin (A/G) là 1,3-1,8.
- Trong các bệnh thân mạn tính thì protein trong máu giảm do: mất qua nước tiểu; rối loạn tổng hợp protein; chế độ ăn hạn chế protein. Đặc biệt là trong hội chứng thân hư, protein máu giảm thấp
<60g/l, albumin máu giảm <30g/l, tỷ lệ A/G <1.
2.1.4. Lipit:
Trong các bệnh cầu thân thường thấy lipit máu tăng, đặc biệt là trong hội chứng thân hư thì
lipit máu tăng rất cao.
2.1.5. Điện giải:
+ Natri: trong các bệnh thân thì nồng độ natri trong máu thường giảm, đặc biệt trong các bệnh ống-kẽ thân mạn tính.
+ Kali: khi có đái ít, nhất là khi có vô niệu thì kali máu có thể tăng. Các yếu tố làm tăng nhanh nồng độ kali máu là: nhiễm toan, chảy máu tiêu hoá, các tình trạng huỷ hoại tế bào nhiều (như có ổ mủ trong cơ thể), chế độ ăn nhiều kali... Khi kali máu tăng cao trên 6,5mmol/l thì có thể gây ngừng tim và là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân vô niệu.


2.2. Phân tích nước tiểu:
2.2.1. Tính chất vật lý của nước tiểu:
+ Thể tích nước tiểu:
- Đái nhiều (đa niệu): khi số lượng nước tiểu >2000ml/24giờ.
- Đái ít (thiểu niệu): khi số lượng nước tiểu 100-500ml/24giờ.
- Vô niệu: khi số lượng nước tiểu <100ml/24giờ.
+ Màu sắc nước nước tiểu:
- Nước tiểu đục: đái ra mủ; đái ra cặn phosphat, cặn urat, đái ra dưỡng chấp.
- Nước tiểu có màu đỏ nhạt đến nâu thẫm: đái ra máu.
- Nước tiểu có màu nâu đỏ đến nâu: đái ra hemoglobin; đái ra myoglobin; đái ra porphyrin.
+ pH nước tiểu:
Phải xét nghiệm nước tiểu tươi (nước tiểu ngay sau khi đi tiểu). pH nước tiểu có thể thay đổi từ
4,6-8, trung bình là 6. Để lâu, nước tiểu có phản ứng kiềm vì urê phân huỷ giải phóng ra amoniac.
- Nước tiểu có phản ứng axít kéo dài có thể do: lao thân, sốt kéo dài, nhiễm axít chuyển hoá, ỉa chảy nặng, đói ăn, nhiễm xeton do đái tháo đường, tăng urê máu và một số trường hợp nhiễm độc.
- Nước tiểu có phản ứng kiềm kéo dài có thể do: nhiễm khuẩn sinh dục-tiết niệu, nhiễm kiềm chuyển hoá, dùng nhiều bicacbonat hoặc các chất kiềm khác, kiềm hô hấp do tăng thông khí.
+ Tỉ trọng và độ thẩm thấu nước tiểu:
- Tỉ trọng nước tiểu là tỉ số giữa trọng lượng của một thể tích nước tiểu trên trọng lượng của cùng một thể tích nước cất. Như vậy, tỉ trọng nước tiểu phụ thuộc vào trọng lượng của các chất hoà tan trong nước tiểu. Tỉ trọng nước tiểu phản ánh khả năng cô đặc nước tiểu của thân. Bình thường, nước tiểu có tỉ trọng 1,015-1,025. Nước tiểu loãng tối đa có tỉ trọng 1,003; nước tiểu được cô đặc tối đa có tỉ trọng
1,030.
- Độ thẩm thấu nước tiểu là đại lượng phản ánh số cấu tử chất tan có trong nước tiểu, các cấu tử này là các phân tử, nguyên tử, các ion. Độ thẩm thấu nước tiểu không phụ thuộc vào trọng lượng của các chất hoà tan trong nước tiểu, do đó nó phản ánh khả năng cô đặc nước tiểu của thân tốt hơn là tỉ trọng nước tiểu. Bình thường, nước tiểu có độ thẩm thấu từ 400-800mOsm/kg H2O. Nước tiểu loãng nhất có độ thẩm thấu 40-50mOsm/kg H2O, nước tiểu được cô đặc tối đa có độ thẩm thấu
1200mOsm/kg H2O.
Tỉ trọng nước tiểu và độ thẩm thấu nước tiểu giảm là biểu hiện của giảm khả năng cô đặc nước tiểu của thân, thường gặp trong các bệnh của ống-kẽ thân như: viêm thân-bể thân mạn, viêm thân kẽ mạn, thân đa nang, nang tuỷ thân, giai đoạn đái trở lại của suy thân cấp, sau ghép thân, suy thân mạn.
2.2.2. Phân tích các thành phần sinh hoá nước tiểu:
Phân tích các thành phần sinh hoá nước tiểu để phát hiện các thành phần bình thường vẫn có trong nước tiểu, nhưng trong bệnh lý của hệ thống thân-tiết niệu thì các nồng độ này bị thay đổi. Hoặc các thành phần bình thường không có trong nước tiểu, khi có bệnh lý lại xuất hiện trong nước tiểu.
+ Protein:
- ở người bình thường, chỉ có một lượng rất nhỏ protein trong máu được lọc qua cầu thân, nhưng được các tế bào ống thân tái hấp thu hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn. Chỉ có <30mg protein
được bài xuất qua nước tiểu trong một ngày, bằng các xét nghiệm sinh hoá thông thường, không
phát hiện được lượng protein này và cho kết quả âm tính.
- Nếu nước tiểu có trên 30 mg protein/24giờ là chỉ điểm cho thấy có tổn thương thân (trước khi xét nghiệm cần phải chắc chắn nước tiểu không có máu, mủ, phải lọc nước tiểu trước khi xét nghiệm):
. Nếu lượng protein từ 30-300 mg/24giờ thì được gọi là microalbumin niệu. Với lượng protein này, các phương pháp sinh hoá thông thường cho kết quả âm tính, muốn phát hiện phải xét nghiệm bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ (RIA). Microalbumin niệu là thông số được sử dụng để chẩn
đoán sớm các tổn thương thân (chẳng hạn trong bệnh tăng huyết áp, trong bệnh đái tháo đường).
. Nếu lượng protein >300mg/24giờ thì các xét nghiệm sinh hoá thông thường cho kết quả
dương tính, là biểu hiện của tổn thương thân đã rõ.
- Một số trường hợp nước tiểu có protein nhưng không có tổn thương thân thì cần phân biệt:
. Protein niệu tư thế đứng: có thể gặp ở tuổi dưới 20, protein niệu xuất hiện khi đứng lâu nhưng khi cho bệnh nhân nằm nghỉ thì protein niệu lại âm tính, khi đứng lâu > 1giờ protein niệu lại dương tính; không kèm theo hồng cầu niệu và các triệu chứng khác của bệnh thân.
. Protein niệu Bence-Jone: gặp trong bệnh đa u tuỷ xương, ung thư. Loại protein này còn được gọi là protein nhiệt tan: khi đun nóng đến 60oC thì nước tiểu đục do protein kết tủa nhưng khi đun sôi thì protein lại tan làm nước tiểu trong, để nguội dần thì nước tiểu đục trở lại. Bản chất của protein nhiệt tan là các chuỗi nhẹ lamda và kappa của gama globulin do các tổ chức bệnh lý tạo ra và được lọc qua cầu thân.
. Protein niệu do bệnh lý một số cơ quan khác như: suy tim ứ huyết có thiểu niệu, chấn thương sọ não, chảy máu màng não. Protein niệu trong các bệnh lý trên thường chỉ xuất hiện tạm thời trong thời gian bị bệnh.
- Protein niệu ở người có thai lần đầu:
Khoảng 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén thấy có protein niệu, phù, tăng huyết áp; đây là biểu hiện của nhiễm độc thai nghén. Nếu nặng thì sản phụ có thể bị sản giật, thai chết lưu. Sau đẻ vài tuần, các triệu chứng mất đi và protein niệu trở lại âm tính. Nếu protein niệu vẫn tồn tại kéo dài sau đẻ thì có khả năng bệnh nhân đã có bệnh thân tiềm tàng từ trước.
- Protein do bệnh thân:
. Lượng protein trong nước tiểu ít (<2g/24giờ) thường gặp trong các bệnh lý của ống-kẽ thân như: viêm thân-bể thân cấp hoặc mạn, viêm thân kẽ do nhiễm độc, xơ mạch thân do tăng huyết áp.
Protein niệu trong các bệnh của ống-kẽ thân thường có tỉ lệ albumin thấp; các globulin α1, α2, β, γ
thường cao.
. Lượng protein niệu trung bình (2-3g/24giờ), thường gặp trong các bệnh cầu thân cấp hoặc mạn. Protein niệu trong các bệnh cầu thân có tỉ lệ albumin/globulin tương tự trong huyết thanh (1,2-
1,5).
. Protein niệu nhiều (>3,5g/24giờ) là biểu hiện của hội chứng thân hư. Thành phần protein niệu trong hội chứng thân hư phần lớn là albumin (khoảng 80% lượng protein); lượng globulin ít.
+ Các thành phần sinh hoá khác trong nước tiểu như urê, creatinin, điện giải..., ít được sử dụng
trong lâm sàng.
2.2.3. Biến đổi các thành phần tế bào trong nước tiểu:
+ Hồng cầu niệu:
- Bình thường, trong nước tiểu có 0-1 hồng cầu/vi trường hoặc 3 hồng cầu/ml nước tiểu hoặc
<1000 hồng cầu/phút. Nếu số lượng hồng cầu trong nước tiểu tăng là có đái ra máu.
- Đái ra máu vi thể nếu:
. 1-2 hồng cầu/vi trường là (+).
. 3 hồng cầu/vi trường là (++).
. 4-5 hồng cầu/vi trường là (+++).
. 6-7 hồng cầu/vi trường là (++++).
- Đái ra máu đại thể: khi hồng cầu dày đặc vi trường, hay >5000 hồng cầu/phút; nước tiểu có màu đỏ nhạt hoặc đỏ.
- Thay đổi hình dáng và thể tích của hồng cầu trong nước tiểu rất có giá trị để chẩn đoán phân
biệt bệnh của cầu thân và bệnh của đường niệu. Nếu hồng cầu bị biến dạng méo mó, thể tích co nhỏ thì chứng tỏ hồng cầu trong nước tiểu có nguồn gốc từ cầu thân, do bệnh lý cầu thân gây nên. Nếu hồng cầu giữ nguyên hình thể như bình thường là hồng cầu có nguồn gốc từ đường niệu (bể thân, niệu quản, bàng quang, niệu đạo), do bệnh lý của đường niệu gây nên.
+ Bạch cầu niệu:
- Bình thường, trong nước tiểu có 0-1 bạch cầu/vi trường hoặc 3 bạch cầu/ml hoặc < 2000 bạch cầu/phút.
- Bạch cầu niệu tăng khi có nhiễm khuẩn:
. 3-5 bạch cầu/vi trường là (+).
. 6-10 bạch cầu/vi trường là (++).
. 11-20 bạch cầu/vi trường là (+++).
. > 20 bạch cầu/vi trường là (++++).
Khi có >10 bạch cầu/vi trường, hoặc >5000 bạch cầu/phút là chắc chắn có nhiễm khuẩn. Nếu có
3-10 bạch cầu/vi trường hay 2000-5000 bạch cầu/phút thì nghi ngờ có nhiễm khuẩn.
Đái ra mủ: nếu bạch cầu dày đặc vi trường, có bạch cầu đa nhân thoái hoá (tế bào mủ), nước tiểu đục.
+ Xét nghiệm cặn Addis:
- Để biết chính xác có đái ra hồng cầu hay bạch cầu không và xác định mức độ nặng của đái ra hồng cầu và bạch cầu thì phải làm xét nghiệm cặn Addis.
- Cách làm như sau:
Lấy nước tiểu trong 3 giờ, đo số lượng nước tiểu rồi tính ra số ml/phút (lấy số lượng nước tiểu trong 3 giờ chia cho 180 phút). Lấy 10ml nước tiểu trong mẫu nước tiểu 3 giờ, ly tâm 3000
vòng/phút trong 10 phút. Hút bỏ 9ml phía trên, khuấy đều 1ml còn lại rồi dàn tiêu bản đếm số lượng hồng cầu, bạch cầu. Số lượng này đem chia cho 10 rồi nhân với số mililít nước tiểu/phút để được số lượng hồng cầu và số lượng bạch cầu/phút.
- Nhận định kết quả:
. Bình thường, nước tiểu có <1000 hồng cầu/phút và <2000 bạch cầu/phút.
. Khi có >5000 bạch cầu/phút là chắc chắn có nhiễm khuẩn. Nếu có 2000-5000 bạch cầu/phút thì nghi ngờ có nhiễm khuẩn.
. Khi có >1000 hồng cầu/phút là có đái ra máu; nếu >5000 hồng cầu/phút là có đái ra máu đại
thể, nước tiểu có màu đỏ.
+ Vi khuẩn trong nước tiểu:
Để tìm vi khuẩn trong nước tiểu cần phải cấy nước tiểu tươi (nước tiểu ngay sau khi đi tiểu). Có nhiều cách lấy nước tiểu để nuôi cấy vi khuẩn:
- Chọc kim qua da phía trên xương mu khi bàng quang đầy nước tiểu để lấy nước tiểu. Phương
pháp này đảm bảo vô khuẩn, nhưng là phương pháp xâm nhập dễ gây nhiễm khuẩn khoang tế bào trước bàng quang, nên hầu như không được áp dụng trong lâm sàng.
- Đặt ống thông bàng quang qua niệu đạo để lấy nước tiểu. Phương pháp này không đảm bảo vô khuẩn tuyệt đối vì có thể đẩy vi khuẩn từ niệu đạo vào bàng quang. Ngoài ra, đặt ống thông dễ gây nhiễm khuẩn ngược dòng nên cũng ít được sử dụng trong lâm sàng.
- Cấy nước tiểu giữa dòng: đây là phương pháp thường được ứng dụng trong lâm sàng. Cách tiến hành như sau:
Tối hôm trước, bệnh nhân phải vệ sinh sạch vùng sinh dục-tiết niệu bằng xà phòng và nước sạch. Sáng hôm sau, trước khi lấy nước tiểu lại phải vệ sinh một lần nữa, sau đó sát khuẩn lỗ niệu
đạo bằng thuốc đỏ. Cho bệnh nhân đi tiểu, loại bỏ phần đầu của bãi nước tiểu, dùng ống nghiệm vô
khuẩn hứng lấy phần nước tiểu giữa bãi, đậy ống nghiệm bằng nút bông vô khuẩn; gửi lên phòng xét nghiệm để nuôi cấy. Nhận định kết quả như sau:
. Không mọc vi khuẩn: không có nhiễm khuẩn nước tiểu.
. Nếu số lượng vi khuẩn <1000 vi khuẩn/1 ml nước tiểu: không có nhiễm khuẩn nước tiểu.
. Nếu số lượng vi khuẩn 1000-100 000 vi khuẩn/1 ml nước tiểu: nghi ngờ có nhiễm khuẩn nước tiểu, cần phải cấy lại.
. Nếu số lượng vi khuẩn >100 000 vi khuẩn/1 ml nước tiểu: có nhiễm khuẩn nước tiểu.
2.2.4. Trụ hình và tinh thể trong nước tiểu:
- Trụ hình trong nước tiểu:
Trụ hình là các cấu trúc hình trụ thấy trong nước tiểu. Bản chất của trụ là mucoprotein, là một loại protein do tế bào ống thân bị tổn thương tiết ra (gọi là protein Tam-Horsfall) và protein từ huyết tương được cầu thân để lọt ra nước tiểu. Trong điều kiện được cô đặc và pH nước tiểu axít, chúng bị
đông đặc và đúc khuôn trong ống lượn xa rồi bong ra trôi theo nước tiểu.
Trụ niệu là biểu hiện tổn thương thực thể ở thân, hoặc ở cầu thân hoặc ở ống thân. Có hai loại trụ: trụ không có tế bào và trụ có tế bào. Trụ có tế bào là các trụ có chứa xác các tế bào (tế bào biểu
mô ống thân, tế bào bạch cầu, tế bào hồng cầu...). Thể loại trụ có giá trị gợi ý cho chẩn đoán bệnh, còn số lượng trụ không có giá trị nói lên mức độ nặng hay nhẹ của bệnh.
Người ta phân ra các loại trụ sau:
. Trụ trong hay trụ hyalin: không có tế bào.
. Trụ mỡ: chứa các giọt mỡ; hay gặp trong hội chứng thân hư.
. Trụ hạt: chứa xác các tế bào biểu mô ống thân; hay gặp trong viêm cầu thân mạn. Trụ hạt màu nâu bẩn gặp trong suy thân cấp.
. Trụ hồng cầu: chứa các hồng cầu từ cầu thân xuống; hay gặp trong viêm cầu thân cấp.
. Trụ bạch cầu: chứa xác các tế bào bạch cầu; hay gặp trong viêm thân-bể thân cấp hoặc mạn. Kích thước của trụ cũng có ý nghĩa trong chẩn đoán: nếu >2/3 số lượng trụ có kích thước to
(đường kính của trụ > 2 lần đường kính của một bạch cầu đa nhân) thì rất có giá trị để chẩn đoán suy thân mạn.
- Các tinh thể trong nước tiểu: tuỳ thuộc thành phần các chất hoà tan trong nước tiểu và pH nước
tiểu có thể gặp:
. Tinh thể phosphat canxi.
. Tinh thể oxalat canxi.
. Tinh thể urat.
Nếu một loại tinh thể có mặt với số lượng nhiều trong nước tiểu kết hợp với những điều kiện nhất định (như pH nước tiểu kiềm hoặc axít; nhiễm khuẩn đường niệu...) chúng có thể dễ tạo sỏi. Chẳng hạn, sỏi urat dễ hình thành trong điều kiện pH nước tiểu toan; sỏi phosphat dễ hình thành trong điều kiện pH nước tiểu kiềm; sỏi truvit dễ hình thành trong điều kiện nhiễm khuẩn đường niệu. Ngoài ra, việc hình thành sỏi còn phụ thuộc vào tỉ lệ giữa các thành phần có trong nước tiểu.
2.3. Các phương pháp thăm dò chức năng thân:
Thân có nhiều chức năng, do đó có rất nhiều nghiệm pháp thăm dò chức năng thân. Trong bài này, chúng tôi chỉ trình bày một số nghiệm pháp thông thường được sử dụng trong lâm sàng.
2.3.1. Thăm dò chức năng lọc máu của cầu thân:
Để thăm dò chức năng lọc máu của cầu thân, người ta đo mức lọc cầu thân. Mức lọc cầu thân là số mililít dịch lọc (nước tiểu đầu) được cầu thân lọc trong 1 phút. Trong thực tế, không thể đo trực tiếp mức lọc cầu thân được nên người ta đo gián tiếp nó qua hệ số thanh thải của một số chất. Hệ số thanh thải của một chất là số mililít huyết tương (thực tế là thể tích ảo) khi đi qua thân trong 1 phút,
được cầu thân lọc sạch chất đó. Các chất thoả mạn các điều kiện sau đây thì có hệ số thanh thải đúng bằng
mức lọc cầu thân, và có thể dùng để xác định mức lọc cầu thân:
. Không bị chuyển hoá trong cơ thể.
. Được lọc dễ dàng qua cầu thân.
. Không bị ống thân tái hấp thu hay bài tiết.
Inulin là chất lý tưởng nhất để đo mức lọc cầu thân. Ngoài ra, có thể dùng maniton, natri thiosulphat. Nhưng kỹ thuật đo hệ số thanh thải các chất này khá phức tạp nên ít được sử dụng trong lâm sàng. Trong lâm sàng, người ta thường dùng phương pháp đo hệ số thanh thải creatinin nội sinh.
+ Cách đo hệ số thanh thải creatinin nội sinh:
- Lấy nước tiểu trong 24giờ, phải lấy thật chính xác, sau đó tính ra thể tích nước tiểu/phút
(Vml/ph) bằng cách chia thể tích nước tiểu lấy được cho 1440phút.
- Lấy 5ml nước tiểu của mẫu nước tiểu trong 24giờ, đưa lên phòng xét nghiệm để định lượng nồng độ creatinin.
- Lấy 2ml máu sau khi kết thúc lấy nước tiểu trong 24giờ, đưa lên phòng xét nghiệm để định lượng nồng độ creatinin.
- Tính hệ số thanh thải creatinin theo công thức:
Ucre x V(ml/ph) 1,73
Ccre = ----------------------------- x --------
Pcre S
Trong đó:
Ccre: hệ số thanh thải creatinin nội sinh (ml/ph).
Ucre: nồng độ creatinin trong nước tiểu (đơn vị mmol/l cần đổi ra àmol/l để cùng đơn vị với creatinin máu).
Pcre: nồng độ creatinin trong máu (àmol/l). V(ml/ph): thể tích nước tiểu/phút (ml/ph).
1,73: là diện tích da trên cơ thể của một người châu âu chuẩn (chưa có thông số trên người Việt Nam).
S: diện tích da của cơ thể bệnh nhân (m2).
Tính diện tích da của cơ thể bệnh nhân có thể sử dụng hai cách sau:
. Sử dụng bảng Dubois: đối chiếu chiều cao, cân nặng của bệnh nhân sẽ cho kết quả diện tích da.

. Tính theo công thức của Haycock:
S = cân nặng0,94(kg) x chiều cao0,4(cm) x 0,024
Bình thường hệ số thanh thải creatinin nội sinh có giá trị trung bình là 120ml/ph. Khi hệ số
thanh thải creatinin nội sinh <60ml/ph là có suy thân.
+ Ước lượng hệ số thanh thải creatinin nội sinh qua nồng độ creatinin huyết thanh:
Vì những khó khăn trong việc thu thập chính xác lượng nước tiểu trong 24giờ để tính hệ số thanh thải creatinin nội sinh, nên việc ước đoán hệ số thanh thải creatinin nội sinh từ nồng độ creatinin huyết thanh đơn độc đã được nhiều tác giả nghiên cứu.
Cơ sở để ước đoán hệ số thanh thải creatinin nội sinh từ nồng độ creatinin huyết thanh là: lượng creatinin được bài xuất hàng ngày qua nước tiểu là tương đối hằng định đối với mỗi cá nhân, do đó Ucre x V = k (Ucre: nồng độ creatinin trong nước tiểu; V: thể tích nước tiểu/phút; k: là hằng số), thay vào công thức tính hệ số thanh thải creatinin ta có Ccre=k/Pcre nên Ccre thay đổi khi k/Pcre thay đổi (Ccre: hệ số thanh thải creatinin nội sinh, Pcre: nồng độ creatinin huyết thanh); tức là Ccre thay đổi khi Pcre thay đổi.
Công thức được dùng phổ biến nhất đối với người lớn là công thức của Cockroft và Gault
(1976):

[140-tuổi(năm)] x trọng lượng cơ thể (kg)
Ccre = ---------------------------------------------------------
72 x Pcre(mg/dl)

Đối với nữ phải nhân kết quả với 0,85 vì khối lượng cơ ở nữ thấp hơn nam. Nếu đơn vị đo Pcre là àmol/l thì hệ số 72 ở mẫu số được thay bằng 0,814.
Cần chú ý việc sử dụng nồng độ creatinin huyết thanh đơn độc để ước đoán hệ số thanh thải creatinin nội sinh sẽ cho kết quả cao hơn hệ số thanh thải creatinin nội sinh thực ở bệnh nhân suy thân. Suy thân càng nặng thì chênh lệch này càng lớn vì sự bài tiết creatinin của ống thân tăng và mất creatinin qua ruột. Cũng cần chú ý thêm, bắt đầu từ 35 tuổi thì mức lọc cầu thân và hệ số thanh thải creatinin nội sinh giảm dần khi tuổi tăng lên, vì số lượng nephron chức năng của thân giảm theo
tuổi. ở người 50 tuổi thì số lượng nephron hoạt động giảm từ 1%-30%; trong khi ở trẻ em thì nồng
độ creatinin máu tăng dần do khối lượng cơ tăng theo tuổi. Do vậy, sử dụng công thức ước đoán trên sẽ dẫn đến đánh giá sai mức lọc cầu thân.
2.3.2. Thăm dò chức năng ống thân:
Có nhiều nghiệm pháp để thăm dò chức năng ống thân: có nghiệm pháp thăm dò chức năng từng đoạn ống thân, có nghiệm pháp thăm dò chức năng toàn bộ ống thân. Chúng tôi chỉ trình bày một số nghiệm pháp thăm dò chức năng toàn bộ ống thân thường được sử dụng trong lâm sàng. Sau
đây là một số phương pháp thăm dò khả năng cô đặc nước tiểu của ống thân.
+ Phương pháp đo độ thẩm thấu nước tiểu mẫu sáng sớm:
Đây là phương pháp rất đơn giản, dễ áp dụng, có giá trị trong lâm sàng để đánh giá khả năng cô
đặc nước tiểu của thân. Cách tiến hành như sau:
Bệnh nhân ăn, uống và sinh hoạt bình thường. Tối hôm trước, bệnh nhân không được dùng các chất có tác dụng lợi tiểu, trước khi đi ngủ bệnh nhân phải đi tiểu hết bãi, trong đêm không được uống thêm nước, không được truyền dịch. Nếu đi tiểu trong đêm thì không lấy mẫu nước tiểu này. Nước tiểu của lần đi tiểu đầu tiên buổi sáng sớm lúc ngủ dậy (từ 4giờ đến 7giờ sáng) được gọi là mẫu nước tiểu sáng sớm. Mẫu nước tiểu này được đựng trong bô sạch, lấy 1ml để đo độ thẩm thấu. Kết quả độ thẩm thấu nước tiểu mẫu sáng sớm:
- Giá trị bình thường: 800 ± 30mOsm/kg H2O.
- Nếu ≥ 600mOsm/kg H2O: khả năng cô đặc nước tiểu của thân là bình thường; không cần phải làm thêm bất kỳ một nghiệm pháp thăm dò khả năng cô đặc nào khác.
- Nếu <600mOsm/kg H2O: khả năng cô đặc nước tiểu của thân giảm; muốn kết luận chính xác cần làm lại xét nghiệm 3 lần hoặc làm nghiệm pháp nhịn khát của Wolhard.
+ Phương pháp đo hệ số thanh thải nước tự do:
Đo đồng thời độ thẩm thấu nước tiểu mẫu 24giờ (có thể đo ở mẫu nước tiểu 3giờ, 6giờ, 12giờ...) và độ thẩm thấu máu để tính các thông số:
- Hệ số thanh thải thẩm thấu:

Uosm x V
Cosm = ------------------
Posm

Trong đó:
Cosm: hệ số thanh thải thẩm thấu (ml/ph).
Uosm: độ thẩm thấu nước tiểu (mOsm/kg H2O). V: thể tích nước tiểu/phút (ml/ph).
Posm: độ thẩm thấu huyết thanh (mOsm/kg H2O).
- Hệ số thanh thải nước tự do:
Hệ số thanh thải nước tự do là số mililít nước cần phải thêm vào (mang giá trị âm) hay bớt đi
(mang giá trị dương) khỏi nước tiểu để nước tiểu đẳng trương so với máu.
CH2O = V - Cosm
Trong đó:
CH2O : hệ số thanh thải nước tự do (ml/ph). V : thể tích nước tiểu/phút (ml/ph).
Cosm : hệ số thanh thải thẩm thấu (ml/ph). Nhận định kết quả:
Nếu : CH2O = 0: nước tiểu đẳng trương so với máu.
CH2O < 0: nước tiểu ưu trương so với máu.
CH2O > 0: nước tiểu nhược trương so với máu.
- Tỉ số thẩm thấu nước tiểu/thẩm thấu máu (Uosm/Posm):
Uosm/Posm = 1: nước tiểu đẳng trương so với máu.
Uosm/Posm > 1: nước tiểu ưu trương so với máu.
Uosm/Posm < 1: nước tiểu nhược trương so với máu.
+ Nghiệm pháp Zimniski:
Khi làm nghiệm pháp, bệnh nhân vẫn sinh hoạt và ăn, uống bình thường. Đúng 6 giờ sáng (hoặc vào một giờ nào khác) cho bệnh nhân đi tiểu và loại bỏ mẫu nước tiểu này; sau đó cứ đúng mỗi
3giờ lại lấy nước tiểu và gom nước tiểu vào một mẫu cho đến đúng 6 giờ sáng hôm sau. Tổng số 8 mẫu, mỗi mẫu nước tiểu được đo số lượng và tỉ trọng. Nhận định kết quả như sau:
- Khả năng cô đặc nước tiểu của thân là bình thường khi:
. Số lượng và tỉ trọng nước tiểu của các mẫu chênh lệch nhau nhiều.
. ít nhất có 1 mẫu nước tiểu có tỉ trọng ≥1,025.
- Khả năng cô đặc nước tiểu của thân giảm khi:
. Số lượng nước tiểu của các mẫu nước tiểu gần bằng nhau, thể tích nước tiểu ban đêm nhiều hơn ban ngày.
. Tỉ trọng các mẫu nước tiểu chênh lệch nhau ít, không có mẫu nào có tỉ trọng ≥1,025.
+ Nghiệm pháp hạn chế nước:
Nghiệm pháp hạn chế nước cho phép nhận định chính xác khả năng cô đặc nước tiểu của thân. Có hai phương pháp tiến hành: phương pháp nhịn khát và phương pháp tiêm arginin vasopresin.
- Nghiệm pháp nhịn khát của Volhard:
Buổi sáng cho bệnh nhân đi tiểu hết bãi, từ đó không được uống nước. Bữa sáng, trưa và tối phải
ăn chế độ khô (bánh mỳ). Lượng nước cả ăn, uống, tiêm truyền không quá 50ml/24giờ. Thời gian nhịn khát cần đạt là 18giờ, cân bệnh nhân trước và trong quá trình làm nghiệm pháp. Khi cân nặng giảm 3-5% so với trước khi làm nghiệm pháp hoặc độ thẩm thấu máu tăng mới đạt yêu cầu. Cứ mỗi 3 giờ lấy nước tiểu một lần, đo số lượng và đo độ thẩm thấu (hoặc đo tỉ trọng) của từng mẫu nước tiểu.
Nhận định kết quả như sau:
. Khả năng cô đặc nước tiểu của thân là bình thừơng khi: số lượng nước tiểu của các mẫu giảm dần; ít nhất có một mẫu nước tiểu có độ thẩm thấu ≥800mOsm/kg H2O (hay tỉ trọng >1,025).
. Khả năng cô đặc nước tiểu của thân là giảm khi: số lượng nước tiểu của các mẫu xấp xỉ bằng nhau; không có mẫu nào có độ thẩm thấu đạt tới 800mOsm/kg H2O (hoặc không có mẫu nào có tỉ trọng đạt tới 1,025).
- Nghiệm pháp tiêm arginin vasopresin (AVP):
Buổi sáng trước khi tiêm AVP, cho bệnh nhân đi tiểu hết bãi, sau đó tiêm dưới da 5đv AVP. Bệnh nhân không được uống nước trong thời gian làm nghiệm pháp. Lấy các mẫu nước tiểu sau tiêm 1giờ, 2giờ,
3giờ. Nhận định kết quả như sau:
. Khả năng cô đặc nước tiểu của thân là bình thường khi: số lượng nước tiểu của các mẫu giảm dần; ít nhất có một mẫu nước tiểu có độ thẩm thấu từ 750-1200mOsm/kg H2O.
. Khả năng cô đặc của thân là giảm khi: số lượng nước tiểu của các mẫu xấp xỉ bằng nhau;
không có mẫu nước tiểu nào có độ thẩm thấu đạt tới 750mOsm/kg H2O.
2.4. Thăm dò hình thái học:
2.4.1. Siêu âm thân, bàng quang:
Chẩn đoán bằng siêu âm là phương pháp chẩn đoán không xâm nhập, không có biến chứng, có thể lặp lại nhiều lần nên được ứng dụng rất rộng rãi. Siêu âm cho biết hình thái, kích thước thân, sự biến đổi nhu mô thân, giãn đài-bể thân, sỏi thân, hình thể bàng quang...
Bình thường, kích thước thân trên siêu âm: dài 10cm, rộng 5cm... Nhu mô thân đều và rất ít cản âm, đài-bể thân cản âm và không giãn. Tỉ lệ nhu mô/đài-bể thân (đo chiều dài thân/chiều dài đài-bể
thân) là 1/2. Ranh giới giữa nhu mô và đài-bể thân rõ.
- Suy thân mạn do viêm cầu thân mạn: kích thước thân nhỏ tương đối đều cả hai bên, nhu mô thân tăng cản âm làm ranh giới giữa nhu mô và đài-bể thân không rõ.
- Suy thân do viêm thân-bể thân mạn: hai thân nhỏ không đều, đài-bể thân giãn, chu vi thân lồi lõm không đều. Nếu có ứ nước thì thân to, đài-bể thân giãn to.
- Sỏi ở đài bể thân: có hình tăng đậm âm ở vùng đài-bể thân, có bóng cản âm. Nếu có hình tăng cản âm mà không có bóng cản âm thì có thể là tổ chức xơ hoá.
- Sỏi ở niệu quản thấp: không thấy được sỏi, nhưng thấy đài bể thân giãn là hình ảnh gián tiếp cho thấy có cản trở lưu thông nước tiểu ở niệu quản.
- Thân có nang: siêu âm rất có giá trị để chẩn đoán các bệnh thân có nang. Nang thân là các khối loãng âm hình tròn, bờ mỏng. Nếu thấy trong nang có tăng cản âm thì có thể là do chảy máu trong nang hoặc nhiễm khuẩn nang.
2.4.2. X quang thân-tiết niệu:
+ Chụp thân không có thuốc cản quang:
- Thụt tháo hai lần cho sạch phân và cho hết hơi trong đại tràng, chụp phim ổ bụng tư thế thẳng và nghiêng từ D11 đến hết khung chậu. Nếu kỹ thuật chụp tốt thì phải thấy rõ bóng hai cơ đái chậu, thấy được rõ bóng của hai quả thân.
- Bình thường: thấy hai thân có hình dạng và kích thước bình thường, cực trên ngang mỏm ngang của đốt sống lưng 11, cực dưới ngang mỏm ngang của đốt thắt lưng 2; thân phải thấp hơn thân trái một đốt sống. Không có hình cản quang ở thân hay dọc đường đi của niệu quản và bàng quang.
- Bệnh lý:
. Thân to hoặc nhỏ hơn bình thường: cần chụp thân có thuốc cản quang để xác định.
. Sỏi ở thân, sỏi ở niệu quản hay ở bàng quang: thấy hình cản quang tròn hay bầu dục; hình ngón tay đi găng hoặc hình san hô ; bờ tròn, nhẵn hoặc nham nhở.
Chụp thân không có thuốc cản quang chủ yếu để tìm sỏi cản quang. Sỏi canxi phosphat, sỏi canxi cacbonat, sỏi canxi oxalat, sỏi amonimagiephosphat thì thấy được hình cản quang. Sỏi urat, sỏi xanthyl, sỏi systin thì không cản quang nên không thấy được trên phim.
Có thể nhầm sỏi với mỏm ngang đốt sống, cục vôi hoá, hạch ổ bụng vôi hoá, cục phân, sỏi túi mật (chụp nghiêng thì sỏi túi mật ở trước cột sống, sỏi thân ở sau cột sống). Để phân biệt cần chụp thân có tiêm thuốc cản quang vào tĩnh mạch.
+ Chụp thân có tiêm thuốc cản quang vào tĩnh mạch:
- Mục đích: để thăm dò hình thái thân, đài-bể thân và thăm dò chức năng thân.
- Chỉ định: sỏi ở hệ thống thân-tiết niệu, lao thân, ung thư thân, đái ra máu, đái ra dưỡng chấp;
để chẩn đoán phân biệt thân to với một khối u trong ổ bụng...
- Chống chỉ định:
. Khi có suy thân: trước khi làm phải xét nghiệm nồng độ urê, creatinin máu, khi nồng độ urê >8mmol/l thì không được làm.
. Khi có dị ứng với iod. Trước khi làm phải thử phản ứng với iod: tiêm 0,5-1ml thuốc cản quang có iod vào tĩnh mạch, sau đó theo dõi phản ứng, mạch, huyết áp.
. Đang đái ra máu đại thể.
. Đang có suy tim nặng.
. Có thai hoặc bụng có cổ chướng.
- Phương pháp: thụt tháo 2 lần trước khi chụp.
. Chụp 1 phim thân thường khi chưa tiêm thuốc cản quang, sau đó tiêm thuốc cản quang và dùng 2 quả ép để ép vào 2 hố chậu, mục đích là để ép vào 2 niệu quản không cho nước tiểu có thuốc cản quang xuống bàng quang.
. Giai đoạn ép: 2-3 phút sau khi tiêm chụp 1 phim, sau đó cứ 15 phút chụp 1 phim, cần chụp
2-3 phim.
. Giai đoạn bỏ ép: sau khi tháo bỏ quả ép, chụp ngay 1 phim để xem niệu quản và bàng quang
- Nhận định kết quả:
. Hình ảnh bình thường: sau 5-6 phút thấy hiện hình thân, sau 15 phút hiện hình đài-bể thân. Thân và đài-bể thân có hình dáng, kích thước bình thường. Có 3 nhóm đài thân, mỗi đài thân to
chia ra 2-3 đài thân nhỏ, mỗi đài thân nhỏ tận cùng bằng hình càng cua. Nhóm đài thân trên hướng lên trên, nhóm đài thân giữa hướng ra ngoài, nhóm đài dưới hướng xuống dưới và ra ngoài.
Niệu quản có chỗ phình, chỗ thắt nhưng không to, đường kính khoảng 0,5-0,7cm, niệu quản có thể bị cong.
. Bệnh lý:
Có thể thấy sự thay đổi về kích thước, vị trí và hình thể thân như thân to, thân nhỏ, thân sa, thân lạc chỗ, thân di dạng...
Đài-bể thân có thể bị giãn, bị biến dạng; có thể thấy các bất thường ở niệu quản và bàng quang. Thân ngấm thuốc chậm hoặc không ngấm thuốc là biểu hiện chức năng thân suy giảm.
+ Chụp bể thân ngược dòng có thuốc cản quang:
- Phương pháp: dùng máy soi bàng quang đưa một ống thông theo đường niệu quản lên tới bể
thân. Bơm thuốc cản quang theo ống thông vào bể thân rồi chụp.
- Ưu điểm: đưa thẳng thuốc vào bể thân, thuốc không bị pha loãng nên hình đài thân và bể thân rõ. Ngoài ra còn có thể kết hợp để rửa bể thân, đưa thẳng thuốc kháng sinh vào bể thân, lấy nước tiểu từ bể thân để xét nghiệm từng bên thân.
- Chỉ định: mọi trường hợp không chụp thân có tiêm thuốc cản quang đường tĩnh mạch được hoặc chụp thân qua đường tĩnh mạch cho kết quả không rõ; đái ra dưỡng chấp.
- Nhược điểm: chỉ biết được hình dáng đài thân và bể thân, không biết được hình thái thân và chức năng thân; dễ gây nhiễm khuẩn ngược từ dưới lên; nếu bơm thuốc mạnh có thể gây vỡ đài-bể thân; kỹ thuật phức tạp.
- Chống chỉ định: khi có nhiễm khuẩn đường niệu.
+ Chụp bơm hơi sau màng bụng:
Phương pháp này hiện nay ít được áp dụng vì đã có siêu âm thân, nó chỉ còn được áp dụng trong một số trường hợp như: để nhận định hình thái tuyến thượng thân.
- Phương pháp:
. Dùng kim chọc thẳng vào vùng bao mỡ quanh thân rồi bơm hơi: phương pháp này có nhược điểm là dễ chọc vào thân; chỉ làm được một bên; khó chọc đúng vào bao thân do đó hơi không tập trung ở hố thân.
. Bơm hơi vào mặt trước xương cùng cụt: dùng kim chọc vào sát mặt trước xương cùng cụt, bơm vào 1,5-1,7lít không khí (tốt nhất dùng khí oxy). Nếu chỉ chụp 1 bên thì chỉ bơm 1lít không khí. Bơm hơi xong, để bệnh nhân ngồi dậy trong vòng 5-10 phút hoặc cho bệnh nhân nằm phủ phục
để hơi đi lên hố thân rồi cho bệnh nhân chụp X quang. Nếu chỉ chụp 1 bên thân thì cho bệnh nhân nằm nghiêng, bên thân định chụp hướng lên trên. Để xác định hơi đã lên hố thân chưa thì có thể gõ vùng hố thân, nếu gõ thấy trong là hơi đã lên hố thân; tốt nhất là chiếu X quang để kiểm tra xem hơi đã lên hố thân chưa. Sau chụp, cho bệnh nhân nằm ở tư thế đầu thấp trong 24 giờ.
- Chỉ định: chụp tuyến thượng thân để thăm dò hình thái, phân biệt u thượng thân với u thân; phân biệt u trong ổ bụng với u thân hoặc thượng thân.
- Tai biến: gây đau lưng, đau bụng, tràn khí dưới da, tràn khí trung thất, tắc mạch hơi, chọc kim vào trực tràng.
+ Chụp động mạch thân:
- Phương pháp: đưa 1 ống thông qua da vào động mạch đùi rồi lên động mạch chủ bụng, khi
đầu ống thông lên trên chỗ phân chia động mạch thân 1-2cm thì bơm thuốc cản quang mạnh và chụp. Thì đầu cứ 3 giây chụp 1 phim, cần chụp 2 phim; sau đó 12 giây chụp 1 phim nữa. Có thể dùng phương pháp quay camera liên tục từ khi bơm thuốc đến khi thân bài tiết hết thuốc. Nếu có phương tiện, tốt nhất nên chụp theo phương pháp số hoá, xoá nền làm hình ảnh rõ nét hơn. Có thể chụp từng bên thân bằng cách đưa ống thông vào động mạch thân rồi bơm thuốc.
- Kết quả:
. Giây thứ 1-4 (thì động mạch): thấy động mạch thân và các nhánh của động mạch thân.
. Giây thứ 3-6 (thì thân): thấy hình thân.
. Giây thứ 12 (thì tĩnh mạch): thấy tĩnh mạch thân.
. Giây thứ 60 (thì bài tiết): thấy hình đài bể thân.
- Chỉ định:
. Nghi ngờ có hẹp động mạch thân: đây là chỉ định chính của chụp động mạch thân.
. Khối u thân: nơi có khối u có nhiều mạch máu tân tạo, thấy mạng lưới mạch máu dày đặc. Hiện nay đã có siêu âm, CT-scanner, cộng hưởng từ là các phương pháp không xâm nhập, cho kết quả chính xác nên chỉ định này ít được áp dụng.
. Bệnh thân bẩm sinh.
- Chống chỉ định: khi có suy thân.
+ Xạ hình thân bằng 99Tcm DTPA.
Tiêm 2-3mCi DTPA (diethylene triamin penta acetic acid) gắn với 99Tcm vào tĩnh mạch, rồi dùng máy đếm phóng xạ tại hai thân, quan trọng nhất là thời gian sau tiêm 2 phút. ảnh chụp cho thấy hình dáng thân, phân bố xạ trên mỗi thân, hình dáng và sự lưu thông của niệu quản. Đường cong biểu diễn hoạt độ phóng xạ của mỗi thân có 3 pha: pha động mạch, pha bài tiết, pha bài xuất.
Đo hoạt độ phóng xạ theo thời gian, từ đó đánh giá được chức năng hai thân và tính được mức lọc
cầu thân từng bên thân.
2.5. Sinh thiết thân:
Sinh thiết thân là thủ thuật xâm nhập, có giá trị chẩn đoán cao, được áp dụng chủ yếu cho các bệnh của thân.
+ Phương pháp: có 2 phương pháp:
- Sinh thiết kín: xác định vị trí thân bằng chụp X quang thân không có thuốc cản quang và có thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch; hoặc sinh thiết dưới hướng dẫn của siêu âm. Dùng kim Vim- Silverman hoặc kim Tru-cut, chọc ngang đốt thắt lưng 1 ở bờ ngoài cơ lưng to vào cực dưới của thân
để sinh thiết.
- Sinh thiết mở: rạch một vết mổ nhỏ tương ứng với bờ ngoài thân, dùng kim Ducrot Montera cắt 1 miếng thân.
Mảnh sinh thiết thân sẽ được xét nghiệm tế bào học, xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang và soi trên kính hiển vi điện tử.
+ Chỉ định:
- Hội chứng thân hư nguyên phát.
- Suy thân cấp: khi có khó khăn về chẩn đoán, khi cần chẩn đoán phân biệt với các nguyên nhân khác của vô niệu.
- Viêm cầu thân tiến triển nhanh.
- Suy thân mạn: chỉ sinh thiết khi kích thước thân còn bình thường. Khi có sự thay đổi từ suy thân tiến triển chậm chuyển sang suy thân tiến triển nhanh thì sinh thiết để tìm nguyên nhân tiến triển.
- Biến đổi nước tiểu không có triệu chứng lâm sàng: khi có rối loạn chức năng thân; protein niệu tăng; tiến triển tăng huyết áp.
- Bệnh hệ thống: bệnh đái tháo đường, bệnh luput ban đỏ.
- Sinh thiết thân ghép để chẩn đoán thải ghép cấp, thải ghép mạn, nhiễm độc thuốc cyclosporin
A, nhồi máu thân, bệnh cầu thân sau ghép.
- Viêm thân bể thân mạn.
+ Chống chỉ định:
- Thân đa nang.
- Thân đơn độc, thiểu sản thân.
- Nhiễm khuẩn đường niệu, lao thân, áp xe quanh thân, nhiễm trùng vùng da nơi sinh thiết.
- Thân ứ nước.
- Tăng huyết áp.
- Rối loạn đông máu.
- Rối loạn tâm thần, động kinh, béo phì, tình trạng sức khoẻ toàn thân nặng, người già > 60tuổi, trẻ em < 10 tuổi.
+ Biến chứng:
- Đái ra máu đại thể: gặp khoảng 5-7% số bệnh nhân.
- Chảy máu quanh thân gây rối loạn chức năng thân: gặp 0,2-1,4%.
- Thông động-tĩnh mạch: gặp 15%.
- Rối loạn chức năng thân: hiếm gặp.
- Đâm kim vào các cơ quan khác: ngoại lệ.
2.6. Soi bàng quang:
+ Phương pháp: dùng máy soi bàng quang qua đường niệu đạo để quan sát trực tiếp niêm mạc bàng quang và tìm dị vật.
+ Kết quả:
- Hình ảnh bình thường: niêm mạc vùng tam giác cổ bàng quang có màu hồng, các nơi khác màu trắng nhạt; có vài mạch máu nhỏ, thỉnh thoảng có nước tiểu từ niệu quản phụt xuống.
- Hình ảnh bệnh lý:
. Khối lượng bàng quang nhỏ: chỉ bơm được rất ít nước vào bàng quang (50-60ml). Khối lượng bàng quang nhỏ chứng tỏ có viêm mạn tính, lao bàng quang.
. Sỏi bàng quang: có thể gắp sỏi ra hoặc dùng kẹp để kẹp vụn sỏi.
. Viêm bàng quang cấp: toàn bộ niêm mạc bàng quang đỏ, xung huyết, có thể có chỗ xuất
huyết.

. Viêm bàng quang mạn: niêm mạc bàng quang nhạt màu, có các dải xơ trắng cuộn tròn như
xoáy lốc.
. Các khối u bàng quang.
. Vị trí chảy máu: có thể thấy chảy máu ở bàng quang hoặc chảy máu từ thân xuống nếu thấy nước tiểu từ thân phụt xuống có máu.
- Chống chỉ định:
. Niệu đạo đang viêm cấp.
. Tình trạng toàn thân nặng.

Submit "Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu" to Digg Submit "Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu" to del.icio.us Submit "Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu" to StumbleUpon Submit "Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu" to Google Submit "Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu" to Facebook Submit "Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu" to Twitter Submit "Triệu chứng học bệnh của hệ thống thân-tiết niệu" to MySpace

Tags: None Sửa Tags
Chuyên mục
Triệu chứng nội

Bình luận

  1. Redawady's Avatar
    يوجد فى شركة وادى الرياض كل جديد مثل شركة تسليك مجارى بالدمام
    انها شركة تسليك مجارى بالدمام ,لدينااحدث واكبر المعدات اللازمة للتسليك المجارى فى الدمام ويوجد ايضا شركة تسليك مجارى بالاحساء
    نحنو مختصون فى ايضا الاحساء والاماكن المجاورة لهذة المناطق باكمالها فى شركة وادى الرياض هتلاقى احدث الطرق المناسبة للتسليك ولدينا ايضا شركة مكافحة حشرات بالدمام
    انها المكافحة التى حيرت كل الاخوة العملاء لا تقلقو نحنو معكم فى شركة وادى الرياض الشركة المميزة الرائعة فى مجال المكافحة ولدينا ايضا شركة مكافحة حشرات بالاحساء
    انها مكاتفحة الحشرات بالاحساء كل الطرق لدينا فى كل انحاء المناطق فى اللمملكة العربية السعودية ولدينا ايضا شركة رش مبيد بالدمام
    انها شركة رش مبيدات او رش مبيد بالدمام والاحساء والمناطق المجاورة لبدينا الادوات الازمة فى رش المبيدات فى الدمام ولدينا كمان شركة مكافحة حشرات بالرياض انها مدينة الرياض الام التى تحتوى على عاصمة السعودية شركة مكافحة حشرات بالرياض شركة وادى الرياض لا تستغرب انتا اتصل وسيب الباقى علينا
    ولدينا ايضا شركة تنظيف بابها ولدينا ايضاتنظيف فى جميع مجلات التنضيف
    ولدينا ايضا شركة نقل اثاث بابهاانها شركة نقل اثاث بابها وبيشة وجميع المناطق الاخرى ولدينا احدث الطرق فى نقل الاثاث فى ابها وبيشة
    ولدينا شركة مكافحة حشرات بجازانانها مدينة جازان الرائعة نحنو معك اينما كنتو لاننا لدينا فريق عمل كبير فى مكافحة الحشرات بجازان اتصل ب
    شركة مكافحة حشرات بخميس مشيطهذة الشركة متميزة دون اى شركة نحنو مابنبعش اى كلام عليكان تجرب وبس فلا تخف ايها العميل نحن معك وعند وعدنا
    شركة وادى ارياض شركة مكافحة حشرات بنجران ,شركة تسليك مجارى بالدمام,شركة رش مبيد بنجران,شركة تنظيف بابها ,شركة وادى الرياض نحنو الافضل والاسرع والاذكى شركة متميزة شركة متحضرة شركة لها مستقبل وحاضر اتصل بنا وداعا للاتربا والبقع والارضيات والحوائط ووداغا للحشرات الكثيرة المزعجة التى قد تسبب الكثير من الامراض ووداعا لتسرب المياه داخل المنزل والذى يجعلهو مهدد
    انها شركة وادى الرياض
    شركة كشف تسربات المياه بالدمام

# Đăng bình luận qua Facebook