PDA

Xem bản đầy đủ : [Hỏi] Bệnh viêm mào tinh hoàn, tinh hoàn cấp?



DrDuy_tdnb
14-12-2010, 09:56 PM
Có đồng nghiệp nào có kinh nghiệm về điều trị viêm tinh hoàn, mào tinh hoàn cấp không, xin chỉ giáo cho tôi với? Tôi điều trị theo phác đồ kháng sinh + corticoid + giảm nề +/- chống viêm nhưng không hiệu quả lắm, kích thước tinh hoàn không nhỏ về bình thường được. Mong các bạn chỉ cho cách điều trị chi tiết cụ thể. Xin chân thành cảm ơn!

Quốc Bảo
14-12-2010, 10:57 PM
Có khi nào chưa đủ liều không :-/, DrDuy_tdnb thử tăng liều xem :">, với lại lâm sàng thấy ổn tôi thấy là chấp nhận được. Mà cũng có thể 2 tinh hoàn đó đã to không điều trước khi bị bệnh.

DrDuy_tdnb
14-12-2010, 11:08 PM
Hì hì, xin cảm ơn! Tiếc là trường hợp giả định của Dr. Quốc Bảo không xảy ra vì tôi trực tiếp theo dõi bệnh nhân này. Nhân đây cũng nói cụ thể về bệnh nhân để bạn hình dung rõ hơn. Bệnh nhân này đã được mổ cắt u phì đại tuyến tiền liệt nội soi qua niệu đạo cách đây 1,5 tháng, khi bước sang tháng thứ 2 thì có biểu hiện viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn bên phải nên quay lại cơ sở điều trị lần trước, được điều trị xấp xỉ nửa tháng nhưng tinh hoàn vẫn không trở về kích thước bình thường (to gấp rưỡi bên trái). Tôi đã dùng Methylprednisolon 80mg/ngày trong 7 ngày đầu, sau đó giảm liều (vì không thể giảm đột ngột mà!). Tôi cũng điều trị cho nhiều trường hợp khác nhưng kết quả cũng tương tự. Thế mới buồn chứ! Vì thế, lần này quyết định nhờ đến sự chỉ giáo của các bạn trên diễn đàn.

cocacola
16-12-2010, 01:43 PM
Bác chuyển liều uống sang liều chích xem thế nào
Còn nếu MethylPred mà yếu thế thì bác xem xét đến việc sử dụng ức chế miễn dịch đi!

Dr.Men
16-12-2010, 05:26 PM
Đầu tiên phải khẳng định viêm mào tinh hoàn là 1 biến chứng của mổ nội soi cắt u tiền liệt tuyến phì đại, do viêm ngược dòng từ bàng quang. Giai đoạn cấp tính thì cần phải bất động, kháng sinh, và chống viêm giảm nề, nếu đau nhiều có thể phong bế tại chỗ bằng Novocain1%( gốc bìu). Kháng sinh nên dùng là nhóm Quinolon. 1 điều cũng cần phải chú ý là nếu bệnh nhân có bí đái sau phẫu thuật thì tỉ lệ tái phát viêm mào tinh hoàn khá cao, và khó điều trị khỏi. Giai đoạn mạn tính khi mào tinh hoàn viêm tái đi tái lại nhiều lần cần xem xét chỉ định điều trị ngoại khoa, cắt mào tinh hoàn. Cũng phải nói thêm với bạn rằng nếu khối tinh hoàn đã to thì không thể nhỏ lại được. Hi vọng 1 số thông tin trên sẽ giúp bạn điều trị tốt hơn.

DrDuy_tdnb
16-12-2010, 09:36 PM
Trước hết xin cảm ơn lời khuyên của các bạn!
Quả thật, hồi còn học đại học, tôi không quan tâm nhiều lắm về mặt bệnh này. Sau này khi công tác, gặp những bệnh nhân như thế, tôi buộc phải tự tìm hiểu, nhưng tài liệu ít quá và cũng không tài liệu nào nói một cách chi tiết như Dr.Men cả. Các phương pháp điều trị như Dr.Men nêu ra tôi đều đã áp dụng cả rồi. Hì hì, như vậy là việc tinh hoàn không nhỏ lại cũng là không ngạc nhiên lắm phải không? À mà hình như nồng độ Novocain để phong bế gốc bìu là 0,25% thì đúng hơn chứ, Dr.Men? Theo tôi thấy thì nếu điều trị càng sớm thì hiệu quả càng cao và ngược lại. Do đó, chúng ta nên khuyến cáo với những bệnh nhân sau mổ u tuyến tiền liệt nếu có biểu hiện thì đến viện càng sớm càng tốt. Các bạn có đồng ý như vậy không?

Dr.Men
17-12-2010, 11:08 AM
Nếu Dr.Duy đã áp dụng cả rồi thì hiện tại tình trạng bệnh nhân thế nào? Cái khó chịu của bệnh nhân bây giờ là gì, có biểu hiện gì không? Có tái phát không? Và điệu trị kháng sinh phải đủ 3 tuần nhé.

DrDuy_tdnb
19-12-2010, 03:32 PM
Mình điều trị được 19 ngày (tiếc là không được 21 ngày như trao đổi của bạn), tình trạng toàn thân được cải thiện, hết sốt, tiểu tiện bình thường, nước tiểu vàng trong, tại chỗ hết các biểu hiện nóng - đỏ - đau nhưng kích thước tinh hoàn bên bị viêm vẫn còn to hơn bên đối diện 1,5 lần. Hiện tại bệnh nhân đã ra viện. Mình đã dặn là nếu có biểu hiện đau trở lại thì tái khám nhưng chưa thấy bệnh nhân quay lại. À, xin hỏi Dr.Men là trong liệu trình điều trị 3 tuần kháng sinh đối với mặt bệnh này thì có phải thay thuốc kháng sinh khi vượt quá 10 ngày không?

Dr.Men
21-12-2010, 05:24 PM
Theo mình dc biết thì không thay đổi kháng sinh, đối với viêm đường tiết niệu nói chung thì dùng dòng quinolon là tốt nhất.

tamthanphanliet
22-12-2010, 10:19 AM
Theo tớ thì cứ bảo bệnh nhân để nó to thế mà dùng cho sướng tội gì bắt nó nhỏ lại hì hì… Cảm ơn các bạn đã trao đổi một ca bệnh hay để anh em có thêm kiến thức lâm sàng.

huytran222
31-12-2010, 09:47 AM
Theo tớ thì cứ bảo bệnh nhân để nó to thế mà dùng cho sướng tội gì bắt nó nhỏ lại hì hì… Cảm ơn các bạn đã trao đổi một ca bệnh hay để anh em có thêm kiến thức lâm sàng.

Hình như "tamthanphanliet" không phải là người trong ngành thì phải?:-o

Dr.Men
31-12-2010, 12:40 PM
Hình như "tamthanphanliet" không phải là người trong ngành thì phải?:-o
Bạn nhầm rồi, đó là 1 bác sĩ đó. Câu đó anh ấy nói vui cho diễn đàn thêm sổi nổi thôi, không có y gì đâu.

DrDuy_tdnb
06-01-2011, 08:45 PM
Buồn quá, bệnh nhân của tôi lại quay lại tìm tôi rồi. Có lẽ lần này phải giải quyết triệt để thôi. Nghĩ lại thấy mình kém cỏi quá!

cocacola
16-01-2011, 04:18 PM
Bác xem xét đến việc sử dụng ức chế miễn dịch đi

IMMUNOSUPPRESSIVES
Thuốc ức chế miễn dịch

1. Lịch sử:

Mặc dù việc cấy ghép ở người đã được thực hiện từ nǎm 1960, nhưng việc cấy ghép khác loại trở nên phổ biến hơn sau khi có cyclosporin vào nǎm 1983. Trước thời gian này, liệu pháp ức chế miễn dịch để ngǎn ngừa thải loại cơ quan gồm liều toàn thân corticosteroid và azathioprin (ra đời nǎm 1968). Globulin chống bạch cầu cũng được dùng vào đầu những nǎm 1980 nhưng hiện nay được đưa vào phương pháp miễn dịch đặc hiệu hơn với các các thuốc như là kháng thể đơn dòng như muromonab-CD3, ra đời nǎm 1986.

Nǎm 1994 tacrolimus ra đời sau đó là chấp nhận của mofeti mycophenolat nǎm 1995. Sự phát triển của các thuốc liệu pháp mới hơn song song với sự hiểu biết và hoạt tính của hệ miễn dịch. Ngày nay, ghép tuỷ xương, tim, phổi, gan và thận là chuyện thường tình. Hơn nữa, cơ sở miễn dịch học đã được xác định về sinh lý bệnh của một số bệnh, đáng chú ý là thiếu máu tan huyết, viêm tiểu cầu thận màng, rheumatica polymalgia, viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, viêm ruột loét và goanulomatosis Wegener. Ngay cả những bệnh như hen và đái tháo đường hiện nay cũng được cho là có một cơ sở miễn dịch/viêm. Kết quả là, các thuốc điển hình được sử dụng như ức chế miễn dịch cũng đang phát hiện các ứng dụng trong những bệnh này. Cyclosporin đã được sử dụng thành công trong thiếu máu bất sản, bệnh Crohn, lupus và viêm khớp dạng thấp.

Vì sự cải thiện về cơ sở miễn dịch của một số bệnh, nên các thuốc cũ cũng được phát hiện là có các ứng dụng mới. Methotrexat, được chấp nhận sử dụng nǎm 1953, có tác dụng điều trị vẩy nến và gần đây được dùng để điều trị hen. Cyclophosphamid, (vẫn được nghĩ là một thuốc chống ung thư nhanh chóng trở thành một chất quan trọng để điều trị viêm thận lupus (nephritis). azathioprin, cyclophosphamid và methotrexat đã được nghiên cứu trong thử nghiệm đối chứng và cho thấy thành công trong điều trị viêm khớp dạng thấp. Trong khi đặc tính ức chế miễn dịch của các thuốc này đã được chứng minh ở nam giói, tuy nhiên vẫn chưa rõ là hoạt động giảm miễn dịch hoàn toàn giải thích được hiệu quả của chúng trong bệnh thấp. Tác dụng độc tế bào của những thuốc này là một vấn đề chủ yếu là các thuốc như sirolimus (trước kia là rapamycin), dạng liều mới của cyclosporin như là liposomal cyclosporin và công thức uống cải tiến như Neoral, đã được FDA chấp nhận vào tháng 7/1985 và mới đây là kháng thể đơn dòng đặc hiệu cao.

2. Cơ chế tác dụng:

Vì sự đa dạng của hệ miễn dịch, các thuốc ức chế miễn dịch có thể hoạt động ở một hoặc vài vị trí trong hệ miễn dịch. Vì thế, không phải tất cả các đáp ứng miễn dịch bị tác động với mức độ tương tự như nhau khi dùng một thuốc miễn dịch. Ví dụ, mofetil mycophenolat ức chế tổng hợp purin bạch cầu, tacrolimus ức chế calcimurin, một enzym liên quan đến sinh sản tế bào T và sirolimus nhằm vào cytokin cũng liên quan đến sinh sản tế bào T. Hơn nữa, điều quan trọng để chú ý là đáp ứng miễn dịch tiên phát ức chế thực sự nhiều hơn đáp ứng miễn dịch thứ phát. Một khi số lượng tế bào nhớ được kích hoạt thì các thuốc giảm miễn dịch ít có hiệu quả. Cuối cùng, trong khi các thuốc ức chế miễn dịch có thể mang lại hiệu quả chống viêm, thì không phải tất cả các thuốc chống viêm có tác dụng như các thuốc ức chế miễn dịch. Các bác sĩ nên nhận thấy là các thuốc ức chế miễn dịch, vì khả nǎng độc nguy hiểm tiềm tàng của chúng, không thích hợp như là thuốc chống viêm đầu bảng khi quá trình viêm không liên quan đến hệ miễn dịch.

Giai đoạn đầu trong việc hình thành đáp ứng miễn dịch là sự có mặt của một kích thích kháng nguyên đến chất giúp đỡ tế bào T. Cyclosporin ảnh hưởng đến khả nǎng của tế bào này để đáp ứng với sự kích thích kháng nguyên. Vì vậy hoạt động của tế bào T bị ức chế, rõ ràng do ảnh hưởng khả nǎng tế bào giúp đỡ để gửi thông tin qua trung gian interleukin 2 và interleukin 6. Các corticosteroid có thể có tác dụng ở một bước sớm hơn (ví dụ ảnh hưởng của sự có mặt kháng nguyên đến tế bào T giúp đỡ bằng đại thực bào) hoặc một bước chậm hơn (ví dụ sự ức chế sự sinh trưởng và/hoặc sự biệt hóa của tế bào T hoặc tế bào B được hoạt hóa) hơn cyclosporin. azthioprin, cyclophosphamid và methotrexat cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và biệt hóa của tế bào B và tế bào T độc tế bào vào trong tế bào huyết thanh và tế bào T hoạt hóa. Mặc dù thực tế là cyclosporin và tacrolimus không có liên quan về hóa học nhưng chúng có cơ chế tác dụng tương tự, cả hai thuốc đều ngǎn ngừa sự hoạt động của chất hoạt hóa tế bào T.

3. Đặc điểm phân biệt:

Trong khi cyclosporin và tacrolimus có cấu trúc hóa học phức hợp, thì myeophenolat là một chất giống purin, tương tự với azthioprin. Cả cyclosporin lẫn mycophenolat là các phức hợp, là đối tượng liên quan đến sinh khả dụng uống của chúng. Dạng cyclosporin đường uống cải tiến (Neoral) chưa được nghiên cứu. Mycophenolat thường được uống như một tiền thuốc mà sinh khả dụng tǎng gấp 2 lần hoạt tính của hợp chất acidmycophenolic. azathioprin cũng là tiền một thuốc đối với hợp chất tác dụng mercaptopmin, tuy nhiên dường như azathioprin chiếm giữ hoạt tính gần tương đương. Vì cyclosporin được chuyển hóa bởi hệ thống enzym cytochrom gan nên việc dùng các chất ức chế enzym gan để không chỉ giảm liều, mà giảm chỉ phi cho liệu pháp cyclosporin. Về mặt hiệu quả, rõ ràng là cyclosporin mang lại cải thiện đáng kể hơn qua sự kết hợp prednison và azathioprin đối với ghép dị bản. Tacrolimus và cyclosporin đã được so sánh và dường như đạt được tỷ lệ thành công tương tự. Vì tính đa dạng của các thuốc ức chế miễn dịch đang được sử dụng và thực tế là các thuốc này không có thể thay đổi lẫn nhau nên việc so sánh những số liệu giữa thuốc này với thuốc khác là không có sẵn.

4. Tác dụng bất lợi:

Cyclosporin được biết là độc với thận và có thể đáng chú ý là độc với hệ thần kinh trong khi phản ứng có hại với mycophenolat chủ yếu liên quan tới đường tiêu hóa. Độc cho tuỷ xương hay gặp azathioprin và cyclophosphamid. So với cyclosporin, tacrolimus dường như gây đau đầu nhiều hơn, rụng tóc và mất ngủ tǎng huyết áp nhẹ và miọc lông tóc. Cả cyclosporin và corticosteroid gây ra nhiều tác dụng bất lợi. Trong khi một số có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng liều thấp nhất có tác dụng, gần như tất cả bệnh nhân gặp phản ứng bất lợi trong khi dùng thời gian dài.

haiphuong158
17-01-2011, 09:36 AM
Drduy_ntnb ơi. Rốt cuộc là bác hỏi vấn đề gì? triệu chứng? biến chứng? điều trị? hay vấn đề gì của bệnh nhân của bác để mọi người cùng tham gia chứ hỏi tổng quát khó trả lời quá ạ:-/

cocacola
17-01-2011, 04:36 PM
Có đồng nghiệp nào có kinh nghiệm về điều trị viêm tinh hoàn, mào tinh hoàn cấp không, xin chỉ giáo cho tôi với? Tôi điều trị theo phác đồ kháng sinh + corticoid + giảm nề +/- chống viêm nhưng không hiệu quả lắm, kích thước tinh hoàn không nhỏ về bình thường được. Mong các bạn chỉ cho cách điều trị chi tiết cụ thể. Xin chân thành cảm ơn!

Cũng rất lâu rồi tôi không có dịp đọc lại các bài viết về vấn đề này. Nay nhân cơ hội DrDuy post trường hợp này lên, nên lấy chút động cơ lên google search tìm hiểu cho biết thêm một chút gọi là xóa nạn dốt, và tính lười biếng lâu ngày khó chữa, đồng thời chia sẻ chút thông tin với các bạn sinh viên hoặc các bác sĩ không phải chuyên khoa này đọc tham khảo chơi

------------------------------------------------------------------------------------------
Viêm tinh hoàn do quai bị

Viêm tinh hoàn do quai bị là một biến chứng của bệnh viêm nhiễm virus thời niên thiếu, nhưng hầu hết trẻ em ngày nay đều được miễn dịch bằng vắc xin. Bệnh quai bị do virút gây ra sốt và sưng tuyến nước bọt, nhất là các tuyến ở sau mang tai, ngay sau quai hàm. Nếu không được chích ngừa, thì khi bị bệnh, có thể gây những ảnh hưởng nghiêm trọng.

Bệnh quai bị ít khi trở thành trầm trọng ở trẻ trai hay gái. Bệnh có thể kéo dài vài tuần rồi hết và không gây ảnh hưởng.

Nhưng nếu thanh thiếu niên qua tuổi dậy thì (khoảng 20 đến 35%) sẽ gây viêm tinh hoàn (do virút bệnh quai bị ảnh hưởng việc sản sinh tinh trùng, trong đó 30% bị vô sinh).

Các triệu chứng viêm tinh hoàn do quai bị thường phát triển sau ba hay bốn ngày phát bệnh. Một hoặc hai tinh hoàn bị sưng, mềm và đau khi sờ vào. Tình trạng sưng kéo dài một tuần. Sau một hay hai thừng, tinh hoàn bị teo lại.

Cách điều trị quai bị tốt nhất chích ngừa cho trẻ. Vì bệnh do vi rút gây ra nên không có thuốc ngừa, vấn đề chỉ là làm dịu những khó chịu ở người bệnh cho đến khi họ bình phục (khoảng sau một tuần). Trong trường hợp viêm tinh hoàn do quai bị, người bệnh cần nghỉ ngơi, chườm khăn nóng, dùng khăn bông mền hoặc để đỡ tinh hoàn. Có thể cho uống thuốc hạ sốt và giảm đau.

Bệnh quai bị ở người lớn có thể gây vô sinh nếu cả hai tinh hoàn bị tổn thương, nhưng bệnh thường không gây vấn đề về khả năng giao hợp ở đàn ông, và thường chỉ xảy ra với một tinh hoàn nên người đàn ông vẫn còn khả năng sinh sản. Bên tinh hoàn bị viêm do quai bị sẽ teo lại dần. Nhưng kể cả khi hai tinh hoàn bị ảnh hưởng, người đàn ông vô sinh, nhưng ham muốn và sinh hoạt tình dục hiếm khi bị ảnh hưởng.

Viêm mào tinh hoàn

Viêm mào tinh hoàn là tình trạng viêm bìu thường gặp nhất. Nó gây sưng, đau mào tinh hoàn, ống chạy dọc phía sau mỗi tinh hoàn và đem tinh trùng từ tinh hoàn đến ống dẫn tinh (ống mang tinh trùng đến niệu đạo). Bệnh có thể phát triển một bên hoặc cả hai. Viêm tinh hoàn thường do viêm nhiễm phát bệnh khi các sinh vật gây viêm niệu đạo hoặc tuyến tiền liệt di chuyển xuống ống dẫn tinh vào mào tinh hoàn. Ðó là một tình huống phổ biến, nhất là nơi những người. có các vấn đề về tuyến tiền liệt, hay mắc bệnh gây qua đường tình dục, chứ ít khi thấy nơi trẻ em.

Viêm mào tinh hoàn có thể rất đau, sốt khó tiểu, nước tiểu có thể có mủ, cần phải được nằm nghỉ vài ba ngày. Bệnh thường bình phục sau một tuần. Những trường hợp nặng hoặc nếu không được điều trị, ống dẫn tinh và mào tinh có thể tạo sẹo làm nghẽn một phần hoặc cả ống, có thể dẫn đến vô sinh. Việc chữa trị không triệt để có thể gây thành mãn tính và lâu lâu lại tái phát, nhất là những lúc căng thẳng, bị kích thích tình dục mạnh, hay sức ép làm nước tiểu chảy ngược có thể gây tái viêm mào tinh hoàn.

Có thể rất khó phân biệt tình trạng viêm mào tinh hoàn với tình trạng xoắn tinh hoàn, tình trạng tinh hoàn bị xoắn và chặn đứng sự cung cấp máu. Cả hai tình trạng đều làm tinh hoàn sưng và đau, nhưng trong trường hợp viêm mào tinh hoàn, các triệu chứng sưng đau có nhưng không thấy máu bị tắc nghẽn ở trẻ, tình trạng xoắn tinh hoàn thường làm sưng tinh hoàn, nhưng ở người lớn lại gây viêm.

Ðiều trị viêm mào tinh hoàn bằng kháng sinh để loại trừ sự viêm nhiễm sau khi xác định loại vi khuẩn gây viêm bằng các xét nghiệm máu, nước tiểu và dịch tiết ra từ tuyến tiền liệt. Còn nếu do bị lây truyền qua đường tình dục thì cả hai người cần điều trị. Ngoài thuốc, người bệnh cần nằm nghỉ, chườm lạnh để giảm bớt khó chịu. Nếu thường bị tái phát có thể giải quyết bằng cách thắt ống dẫn tinh ở bên bị ảnh hưởng.

Viêm mào tinh hoàn trầm trọng cả hai bên có thể gây vô sinh do mô sẹo làm nghẽn mào tinh hoàn và ống dẫn tinh. Sự viêm nhiễm nhẹ hay chỉ một bên chỉ làm giảm khả năng sinh sản tạm thời. Cần tránh sinh hoạt tình dục lúc phát bệnh, nhưng sau khi bình phục, hầu như không gây những ảnh hưởng lâu dài về khả năng sinh hoạt tình dục.

Xoắn tinh hoàn

Các tinh hoàn treo tự do trong bìu dựa vào dây dịch hoàn, chứa ống dẫn tinh và sự tiếp tế máu. Khi một tinh hoàn xoắn vào dây này, sự tiếp tể máu bị cắt và tinh hoàn bị sưng đau: Tình trạng này được gọi là xoắn tinh hoàn. Nếu tinh hoàn không tự hết xoắn hay không điều trị ngay, tinh hoàn sẽ bị hủy hoại và mất khả năng tạo ra tinh trùng và nội tiết tố nam. Tình trạng xoắn thường thấy nhất ở độ tuổi từ 5 đến 20 tuổi, nhưng cũng có khi xảy ra ở trẻ nhỏ hơn và người lớn. Khuynh hướng phát triển vấn đề này dường như do di truyền và liên quan đến những gì được gọi là "sự dị dạng quả lắc chuông", đơn giản là cách cấu tạo dây tinh hoàn và dây dịch hoàn khiến nó dễ bị xoắn. Nếu ai đã bị xoắn một bên thì bên kia cũng có nguy cơ bị xoắn.

Tình trạng tinh hoàn bị xoắn là tình huống nghiêm trọng vì nó có thể làm mất hoàn toàn khả năng thực hiện chức năng của một bên hoặc hai bên. Nếu khả năng thực hiện chức năng cả hai tinh hoàn bị mất, họ sẽ trở nên vô sinh và sẽ cần điều trị nội tiết tố suốt đời, để duy trì hình dạng nam tính và khả năng tình dục. Tổn hại xảy ra chỉ trong bốn giờ. Nếu được khám và điều trị trong vòng 12 tiếng sau khi bắt đầu có triệu chứng xoắn, cơ may cứu được tinh hoàn rất cao. Nhưng nếu để chậm trễ sau 24 tiếng thì hầu như không thể cứu được.

Các triệu chứng xoắn tinh hoàn đột ngột là thấy tinh hoàn sưng và đau dữ dội ở một bên bìu, đặc biệt nam thiếu niên ở tuổi dậy thì. Ðau ở bụng dưới, buồn nôn và ói mửa cũng có thể xảy ra. Vấn đề chính khi chẩn đoán tình trạng xoắn là phải phân biệt nó với tình trạng viêm mào tinh hoàn, bằng cách xem máu có bị ngăn lại không. Vài xét nghiệm máu chảy đến tinh hoàn được dùng để chẩn đoán bệnh, như việc dùng ống nghe đặc biệt (ống nghe Doppler) với siêu âm và "nội soi cắt lớp hạt nhân", bao gồm việc chích một liều chất phóng xạ cực nhỏ vào dòng máu để máu chảy vào vùng bìu trong khi quan sát bằng máy soi cắt lớp.

Nếu tình trạng xoắn không được điều trị, tinh hoàn sẽ hết sức đau, sưng, có khi bằng trái bưởi chùm. Sau đó chỗ sưng sẽ giảm dần và cuối cùng teo lại bằng hạt đậu.

Xoắn tinh hoàn có thể điều trị thành công trên 90% trường hợp nếu được điều trị đúng trong vài giờ sau khi triệu chứng bắt đầu. Trong những giờ đầu tiên sau khi tình trạng xoắn xảy ra thì bác sĩ có thể làm hết xoắn mà không cần phẫu thuật. Sau khi gây tê, bác sĩ chỉ cần xoay ngược lại chiều xoắn, trả lại tình trạng ban đầu cho tinh hoàn: máu tiếp tục chảy vào tinh hoàn, và tinh hoàn giảm sưng dần.

Nếu cần phẫu thuật, việc này cũng đơn giản và chỉ mất vài phút là có thể tháo chỗ xoắn, ổn định bằng mũi khâu để tránh tình trạng xoắn lại. Cuộc tiểu phẫu này chỉ cần vài phút nhưng thường phải gây mê tổng quát.

Như đã giải thích trước, hầu hết trường hợp xoắn tinh hoàn nếu không điều trị kịp sẽ đưa tới hậu quả làm mất khả năng thực hiện chức năng của tinh hoàn. Tinh hoàn không còn tạo ra tinh trùng hoặc nội tiết tố nam. Nếu chỉ có một tinh hoàn bị ảnh hưởng, tinh hoàn còn lại có thể tạo ra số lượng nội tiết tố nam bình thường. Nhưng họ có thể trở nên vô sinh do sự đáp ứng miễn dịch tự động được hình thành nơi cơ thể như hậu quả của việc hủy hoại tinh hoàn kia. Trong các trường hợp này cơ thể tạo ra những tế bào tấn công tinh trùng của họ và tiêu diệt chúng.

Nếu cả hai tinh hoàn bị xoắn đều bị hủy hoại, thì thực chất là họ bị thiến. Họ bị vô sinh và cần bổ sung nội tiết tố suốt đời để duy trì nam tính và khả năng tình dục bình thường. Nếu không bổ sung tiết tố, họ sẽ dần dần mất dần ham muốn về tình dục, mất khả năng cương cứng, phát triển nữ tính nhiều hơn.

Tràn dịch tinh hoàn, dãn tĩnh mạch tinh, và u tinh dịch

Ba tình huống làm ảnh hưởng bìu là tràn dịch tinh hoàn, dãn tĩnh mạch tinh, và u tinh dịch thường hoàn toàn vô hại và không cần phải điều trị. Tràn dịch tinh hoàn là tình trạng tích dịch cao trong túi bao quanh tinh hoàn. Dãn tĩnh mạch tinh là tình trạng tĩnh mạch phình to (căng dàn tĩnh mạch) lồi ra bên trong bìu, thường ngay phía sau và trên các tinh hoàn. Ước chừng 10% đàn ông tuổi từ 15 đến 25 mắc chứng này. U tinh dịch là tình trạng có u nang nhỏ đầy tinh dịch, thường nằm ngay trên các tinh hoàn.

Tràn dịch tinh hoàn thường không thành vấn đề trừ khi bìu bị phồng lớn và nặng do chất dịch quá nhiề u làm khó chịu hoặc khó coi. Chất dịch này có thể dùng kim hút đi định kỳ hoặc tiểu phẫu để chữa hoàn chỉnh.

Dãn tĩnh mạch tinh không đe dọa sức khỏe và thường không có triệu chứng nhưng đó là nguyên nhân chủ yếu gây vô sinh. Sự hiện các mạch máu dãn ở bìu có thể tăng nhiệt độ, đủ để làm chậm quá trình tạo tinh trùng và dẫn đến vô sinh. Một khi đã thành vấn đề, có thể tiểu phẫu để chữa hết và cứu vãn được tình hình vô sinh (trên 50%). Ðể kiểm tra tình trạng vô sinh có thể dùng phương pháp đếm tinh trùng. Một vài bác sĩ có ý kiến nên phẫu thuật tất cả các trường hợp bị dán tĩnh mạch tinh càng sớm càng tốt nhằm tránh bị vô sinh.

U tinh dịch cũng không gây ra những vấn đề về sức khỏe và không cần điều trị trừ khi nó gây khó chịu, lúc ấy có thể tiểu phẫu để cắt bỏ.

Các triệu chứng về tràn tinh dịch tinh hoàn là bìu lớn ra, có thể như thấy một trong hai tinh hoàn lớn hơn bình thường do chúng bị bao quanh bởi quá nhiều chất dịch. Túi dịch có thể mềm hay cứng, nhưng không đau hoặc rát. Dùng đèn chiếu sáng đặt bên dưới bìu sẽ nhìn rõ túi dịch và lấy kim hút chất dịch mà vàng trong ra.

Các triệu chứng về dãn tĩnh mạch là thấy các nốt mạch máu cứng lổn nhổn ở bìu, trên hai tinh hoàn, thường là bên trái nhiều hơn bên phải (giống như một túi sán). Các nốt này càng lớn và cứng hơn nếu bị căng thẳng hoặc đứng lâu và mềm trở lại nếu nằm nghỉ. Có thể thấy đau khi đụng vào nó. Trong những trường hợp hiếm, nếu khối u này phát triển quá lớn, nó có thể gây sức ép vào các mạch máu khác cung cấp máu cho các tinh hoàn.

Các triệu chứng về u tinh dịch thường là một u nang nhỏ không đau nằm trên tinh hoàn nên ít ai để ý, thường chỉ phát hiện ra lúc kiểm tra sức khỏe. Thực ra nang này thường không gây bất cứ vấn đề gì và không cần chữa trị trừ khi gây ra những khó chịu.

Nếu cần điều trị, tất cả các trường hợp này chỉ cần tiểu phẫu là có thể chữa khỏi.

Dãn tĩnh mạch tinh là nguyên nhân chủ yếu khiến đàn ông bị vô sinh nhưng có điều chứng này có thể chữa trị dễ dàng. Không chứng nào trong ba chứng này ảnh hưởng sự ham muốn hay khả năng sinh hoạt tình dục.

Ung thư tinh hoàn

Ung thư tinh hoàn là một bệnh rất hiếm, tỉ lệ rất thấp, chỉ chừng 2/1000 hay 3/1000, và thường ở độ tuổi tuổi từ 20 đến 35, nhưng ngoài tuổi ấy vẫn có thể bị, nhất là những người mắc chứng tinh hoàn không sa xuống bìu. 99% chỉ bị ung thư một bên tinh hoàn.

Ung thư tinh hoàn là một bệnh rất nghiêm trọng vì nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh sẽ lan tỏa khắp cơ thể và làm chết người.

Triệu chứng phổ biến nhất của ung thư tinh hoàn là một khối u nhỏ, không đau, cỡ hạt đậu nằm trước hoặc bên hông tinh hoàn. Nếu thường xuyên tự khám có thể dễ phát hiện ra.

Các triệu chứng khác là có cảm giác bìu dái nặng, hơi đau ở háng, và tích dịch ở bìu dái; những triệu chứng có thể do vấn đề khác, nhưng thường cần lưu ý đấy là nguyên nhân của ung thư. Có vài dạng ung thư tinh hoàn khác nhau nên việc điều trị mỗi dạng mỗi khác, nhưng cách chung vẫn là phẫu thuật để cắt bỏ tinh hoàn. Một số trường hợp có thể điều trị bằng xạ hoặc hóa trị, nhưng lại có trường hợp phải cắt bỏ cả những hạch bạch huyết của vùng xương chậu và háng.

Cắt bỏ một tinh hoàn thường không làm mất khả năng hoặc ham muốn tình đục. Ðiều may là hiếm khi bị ung thư cả hai tinh hoàn (chỉ khoảng l%). Nhưng có điều, người bị ung thư tinh hoàn thường giảm khả năng sinh sản, vì việc cắt bỏ các hạch bạch huyết gây giảm lượng tinh dịch, một tình trạng được gọi là "xuất tinh khô" do thiếu chất dịch.

cocacola
17-01-2011, 04:46 PM
Viêm mào tinh hoàn: Nguyên nhân và cách điều trị

Viêm mào tinh hoàn (MTH) là bệnh khá phổ biến ở nước ta và trên thế giới. Nếu điều trị không kịp thời, viêm MTH cấp tính sẽ biến thành viêm MTH mạn tính và có thể dẫn đến vô sinh ở nam giới. Tuy nhiên, khi đã có bệnh, nam giới không nên tự ti và giấu bệnh. Ở Mỹ hằng năm có tới 60.000 trường hợp mắc bệnh này, ở Pháp tỷ lệ này chiếm 20% tổng số người bệnh trong năm của khoa tiết niệu.

Tại Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ về các trường hợp mắc bệnh, chủ yếu vì lý do người bệnh ngại tới khám bộ phận này. Hơn nữa MTH thường bé, nằm sát tinh hoàn nên ít được quan tâm và thầy thuốc cũng thường ít chú ý nên dễ bỏ sót.

Nguyên nhân gây viêm MTH
Bệnh có thể xảy ra sau một chấn thương MTH hoặc do nước tiểu trào ngược dòng vào ống dẫn tinh. Phần lớn các trường hợp bị bệnh do nhiễm khuẩn qua các đường:
Nhiễm khuẩn qua đường tình dục.

- Lậu cầu trùng (gonocoque), đây là trường hợp hay gặp nhất.

- Chlamydia trachomatis: từ cơ quan sinh dục nữ sang.
- Escherichia coli: hay xảy ra ở nam giới có quan hệ đồng tính, chủ yếu do quan hệ tình dục qua đường hậu môn.

Nhiễm khuẩn từ đường tiết niệu - sinh dục lan tới.

Thường gặp ở nam giới trên 35 tuổi và trẻ trai trước tuổi dậy thì. Vi khuẩn gây bệnh thường là: vi khuẩn đường ruột E.coli, Pseudomonas, N.Meningitis, Coccidioide imitis...

Các chủng khác ít gặp hơn là trực khuẩn lao, ký sinh trùng giun chỉ, sán lá...

Vi khuẩn từ ống dẫn tinh bị viêm sau phẫu thuật lan tới MTH.

Cũng có khi do các dị tật bẩm sinh, tiết niệu sinh dục bị viêm nhiễm lan tới.

Bệnh khởi phát do viêm tế bào ống dẫn tinh lan tới MTH. Tới giai đoạn toàn phát MTH sưng tấy từ cực dưới lên cực trên. Nếu cắt ngang MTH sẽ thấy nhiều ổ áp-xe nhỏ dẫn tới viêm mủ toàn bộ MTH. Tinh hoàn lúc này cũng sưng to và sung huyết. Nếu điều trị kịp thời thì bệnh sẽ khỏi nhưng các tổ chức viêm xơ có thể làm bít tắc ống dẫn tinh gây nên bệnh vô sinh ở nam giới.

Phát hiện bệnh bằng cách nào?

Thường bệnh nhân đã có viêm niệu đạo hoặc tuyến tiền liệt cũ, nay xuất hiện cơn đau ở một bên bìu lan theo dọc thừng tinh lên vùng hạ vị. Bìu sưng to, lớp da bìu đỏ rực chỉ trong vòng 3-4 giờ, sờ vào thấy rất đau. Mào tinh hoàn to và rắn nhưng vẫn phân biệt được với tinh hoàn.

Ranh giới sẽ mất đi và chỉ còn lại một khối phồng to nóng ran và đau. Nắn thừng tinh thấy sưng lên và có thể xuất hiện tràn dịch màng tinh hoàn, nếu thăm trực tràng thấy tuyến tiền liệt bị đau. Toàn thân có biểu hiện sốt cao lên tới 39-40oC hoặc hơn, có khi kèm theo rét run.

Trong chẩn đoán các bác sĩ cần phân biệt xoắn tinh hoàn (xoắn thừng tinh) với chấn thương tinh hoàn, viêm tinh hoàn do biến chứng quai bị. Bệnh nhân xoắn tinh hoàn thường là trẻ em, khi nâng bìu lên phía bụng thì đau tăng lên trong xoắn tinh hoàn còn nếu đau do viêm MTH thì thấy dịu đi.

Điều cần chú ý là nếu xoắn tinh hoàn thì phải mổ cấp cứu tháo xoắn, còn viêm MTH thì điều trị bảo tồn. Bệnh nhân chấn thương tinh hoàn thường có tiền sử chấn thương và tiểu tiện bình thường. Còn bệnh nhân viêm tinh hoàn do biến chứng quai bị thường có tiền sử viêm tuyến mang tai, người bệnh đi tiểu bình thường.

Điều trị viêm MTH cấp

Việc điều trị cho các bệnh nhân này phải khẩn trương kịp thời. Cần cho người bệnh nằm nghỉ ngơi, có gối kê dưới bìu cho êm, có băng treo cố định bìu để tránh di động mạnh. Bác sĩ cần cho xét nghiệm vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để điều trị đúng hướng.

Các thuốc thường dùng điều trị bệnh này là tetracyclin, doxycyclin, probenecid, kalecin, uống kéo dài trong 3 tuần. Có thể dùng kết hợp với các loại steroid để ngừa chít hẹp ống dẫn tinh và có thể phóng bế novacain 1% vùng thừng tinh để giảm đau.

Viêm MTH chuyển sang mạn tính khi nào?

Đó là hậu quả biến chứng của viêm MTH cấp. Các tổ chức của MTH bị xơ hóa làm chít hẹp từng đoạn hoặc toàn bộ ống dẫn tinh và MTH. Không sốt và không đau nên người bệnh có thể tự sờ nắn thấy MTH xơ cứng, rắn hơn bình thường; thừng tinh cũng xơ cứng từng đoạn hoặc toàn bộ.

Viêm MTH mạn tính dễ bị nhầm lẫn với một số bệnh như lao MTH và u MTH.

DrDuy_tdnb
19-01-2011, 08:19 PM
Bệnh nhân của mình đã được cắt tinh hòan rồi. Khi mổ ra mới biết là tinh hòan bị viêm mủ. Thảo nào điều trị mãi không ăn thua gì!

mrchan
24-06-2011, 02:11 PM
Các bạn ở đây cho mình hỏi, minh mổ giãn tĩnh mạch tinh ở bệnh viện bình dân được gần 4 tháng rồi. Lúc mổ xong thì 2 tuần đầu thi tinh hoàn bên phải bị sưng to hơn bên trái. Minh đi khám lại và bác sĩ cho thuốc uống. Bây giờ thi tinh hoàn bên phải của mình sờ thấy 1 đoạn cứng cứng, và bị dính với bìu. Đây có phải là mình đã bị viêm mào tinh hoàn mạn phải không , nó có bị sưng lại không và có lan sang bên tinh hoàn trái không vậy mong các bạn giúp đỡ. Nếu như vậy mình có thể điều trị nó như thế nào vì từ lúc hết sưng thi bị cứng đến gần 4 tháng rồi. Híc híc