PDA

Xem bản đầy đủ : Rong kinh, nguyên nhân và phương pháp điều trị



Bs Vui Cười
14-01-2014, 11:55 AM
Rong kinh, nguyên nhân và phương pháp điều trị
Kinh nguyệt là một trong những nỗi khó chịu mà người phụ nữ phải chịu đựng hàng tháng. Không những vậy, đi kèm với kinh nguyệt còn có các triệu chứng rối loạn kinh nguyệt mà một trong những hiện tượng thường gặp là rong kinh ([Thành viên mới thấy nội dung]).
Gần như bất cứ người phụ nữ nào cũng đã có lần bị rong kinh, từ để chỉ tình trạng ra máu quá nhiều và kỳ kinh kéo dài quá lâu. Thông thường một chu kỳ sẽ kéo dài từ 28 đến 32 ngày, thời gian hành kinh trung bình 3 - 5 ngày. Rong kinh là khi lượng máu ra nhiều vào giữa đợt có kinh, kéo dài trên 7 ngày và lượng máu mất đi vượt quá 80ml/chu kỳ kinh nguyệt (bình thường khoảng 50 - 80 ml/ chu kỳ).
Triệu chứng
1. Kinh nguyệt ra nhiều đến nỗi ướt đẫm 1 hay nhiều băng vệ sinh hay tampons mỗi giờ, kéo dài nhiều giờ.
2. Cần phải dùng một lúc 2 cái băng.
3. Cần phải thay băng trong đêm.
4. Kinh nguyệt kéo dài hơn 7 ngày.
5. Kinh nguyệt gồm những cục máu đông lớn.
6. Kinh nguyệt nhiều đến nỗi không làm việc bình thường được.
7. Hay mệt, hơi thở ngắn và dốc, triệu chứng của bệnh thiếu máu.
Nguyên nhân gây rong kinh
Nguyên nhân gây rong kinh được chia ra làm hai loại: rong kinh cơ năng và rong kinh do nguyên nhân thực thể.
1. Rong kinh cơ năng (Rong kinh do rối loạn hormone):
Thường gặp nhất ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của thời kỳ dậy thì và tiền mãn kinh (chu kỳ kinh nguyệt thưa dần, hành kinh nhiều huyết, kéo dài,…). Trong vòng hai năm đầu tiên sau khi bắt đầu có kinh, các thiếu nữ thường có vòng kinh không đều vì không có phóng noãn.
Trong chu kỳ không phóng noãn, estrogen tăng lên kéo dài, không có hoàng thể và cũng không có hiện tượng bong nội mạc tử cung. Progesteron không được tiết ra cân đối với estrogen. Nội mạc cứ dày lên mãi trong khi mạch máu không tăng trưởng kịp nên không đủ máu nuôi, dẫn đến hoại tử và bong ra từng mảng, gây ra huyết nhiều và kéo dài.
Một vài bệnh cũng gây ra xáo trộn thăng bằng này, ví dụ như bệnh suy tuyến giáp trạng. Dùng hormone bừa bãi cũng có thể gây ra tình trạng nàỵ.
[Thành viên mới thấy nội dung] ([Thành viên mới thấy nội dung])
2. Rong kinh do nguyên nhân thực thể:
Là do tổn thương thực thể ở tử cung hoặc buồng trứng như:
Polyp nội mạc tử cung
Polyp (bướu thịt) có thể phát triển trong niêm mạc tử cung (nội mạc tử cung) và phổ biến ở những phụ nữ sau 30 tuổi. Phần lớn polyp lành tính, không gây ung thư.
U xơ tử cung
U xơ tử cung là khối u lành tính phát triển trong thành tử cung và khiến tử cung mở rộng lên nhiều lần.
Lạc nội mạc trong cơ tử cung
Lạc nội mạc trong cơ tử cung không giống với lạc nội mạc tử cung. Đây là tình trạng lớp nội mạc tử cung bình thường chỉ lót bên trong lòng tử cung, nay lại hiện diện bên trong và phát triển ở lớp cơ của thành tử cung. Tử cung sau đó sẽ dày hơn bình thường, khiến chúng ta đau đớn và khó chịu.
Ung thư
Ung thư xảy ra trong lớp niêm mạc tử cung (ung thư nội mạc tử cung), thành tử cung (leiomyosarcoma), cổ tử cung hoặc buồng trứng (ung thư buồng trứng) đều có thể gây nên chảy máu bất thường. Bạn cần đến bác sĩ phụ khoa càng sớm càng tốt nếu bị chảy máu bất thường dai dẳng, hoặc chảy máu sau khi mãn kinh.
Các biến chứng của thai kỳ
Nếu nghi ngờ đang có mang, bạn nên tiến hành xét nghiệm nước tiểu vì hiện tượng chảy máu bất thường có thể do nhiều vấn đề xuất phát từ thời kỳ đầu mang thai. Nếu kết quả xét nghiệm là dương tính: chị em nên khám sức khỏe và theo dõi tình trạng thai thường xuyên.
Các nguyên nhân khác
- Khiếm khuyết bẩm sinh của tử cung
- Nhiễm trùng
- Bị rối loạn đông máu di truyền (bệnh Von Willebrand)
- Tuyến giáp hoạt động kém
- Các loại thuốc làm loãng máu như warfarin
Ngoài ra một số thuốc tránh thai có thể gây rong kinh, nhất là các loại thuốc tránh thai khẩn cấp.
Phương pháp điều trị
Nếu bạn chỉ bị rong kinh ở mức độ nhẹ thì có thể không cần điều trị và có thể áp dụng những cách dưới đây để cảm thấy dễ chịu hơn:
• Nằm nghỉ nếu bạn ra máu quá nhiều.
• Không uống thuốc aspirin vì thuốc này có thể làm tăng chẩy máu
• Uống thêm chất sắt sau khi hỏi ý kiến bác sĩ
• Áp dụng các chế độ ăn lành mạnh với các thực phẩm giàu vitamin B như cá, thịt bò, trứng, sữa… cùng các loại ra xanh, hoa quả.
• Đồng thời rèn luyện thân thể với các bài thể dục nhẹ nhàng và có chế độ nghỉ ngơi hợp lý.
Khi tình trạng rong kinh kéo dài và các biện pháp trên không mang lại hiệu quả, bạn hãy đi khám bác sĩ để có hướng điều trị hiệu quả và kịp thời, tránh được những biến chứng có hại về sau.
Trong trường hợp là rong kinh cơ năng - rong kinh do rối loạn hooc môn, bạn có thể sử dụng những sản phẩm có công dụng điều hòa hooc môn nội tiết sinh dục nữ, ổn định điều tiết estrogen.
Nguồn: ngocdahuong

LUONGYVIET
07-07-2014, 05:23 PM
Rong kinh, rong huyết là tình trạng xuất huyết qua đường sinh dục, ngoài thời kỳ có mang. Thường không phải ra huyết thời kỳ có kinh; nhưng có lúc rong kinh rồi thành rong huyết. Rong kinh là có kinh kéo dài trên 6 ngày, lượng kinh ra nhiều hơn bình thường.


Đông y gọi chứng này là băng lậu. Băng là chảy nhiều, lậu là chảy ít, lúc chảy nhiều lúc chảy ít. Nguyên nhân do ung thư cổ hoặc thân tử cung, loét cổ tử cung, viêm nhiễm tử cung. Ngoài ra còn có một số bệnh toàn thân gây ra như tăng huyết áp, suy gan... Đông y cho là do mạch xung và mạch nhâm bị thương tổn gây rong huyết. Có 2 loại: bệnh thuộc thực và bệnh thuộc hư.

Thực chứng: Do huyết nhiệt, thấp nhiệt, huyết ứ, khí uất.

Huyết nhiệt: Do tâm hỏa vượng, ăn thức ăn cay nóng làm tăng nhiệt gây nóng, huyết vận hành sai đường. Biểu hiện: đột nhiên ra máu nhiều, màu đỏ sẫm, khát nước, đầu choáng, lưỡi đỏ, rêu vàng, ngủ không yên. Mạch hoạt sác. Phép chữa: thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết (cầm máu). Dùng các bài thuốc sau:

Bài 1: Sinh địa 16g, huyền sâm 12g, địa cốt bì 8g, câu kỷ tử 8g, a giao 8g, than bẹ móc 8g, chi tử sao 8g, cỏ nhọ nồi 16g. Đổ nước vừa đủ sắc uống ngày 1 thang, uống nguội ngày 2 lần vào chiều tối.

Bài 2: Hoa cây cỏ nến (bồ hoàng) sao đen 20g, địa du 12g, a giao 12g, tóc rối đốt thành than 6g, đan bì 12g, than bẹ móc 12g, bạch thược 12g, sinh địa 12g, hắc giới tử 12g. Tất cả tán bột ngày uống 12g.

Huyết ứ: Thường xuất hiện do rong huyết sau nạo thai, đặt vòng tránh thai. Biểu hiện: đột nhiên huyết ra nhiều hoặc ra dầm dề không cầm, có cục sắc tím đen, bụng dưới đau, khí huyết cục ra rồi thì hết đau. Mạch trầm sáp. Phép chữa: thông ứ, chỉ huyết. Dùng các bài thuốc sau:

Bài 1: Ích mẫu 20g, đào nhân 10g, uất kim 8g, nga truật 8g, tóc rối đốt thành than 6g, bách thảo sương 14g, cỏ nhọ nồi 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Bồ hoàng sống, ngũ linh chi lượng bằng nhau, tán nhỏ. Mỗi lần uống 8g với rượu.

Bài 3: đương quy 8g, xuyên khung 8g, tam thất 4g, một dược 4g, ngũ linh chi 4g, đan bì 8g, đan sâm 8g, ngải diệp 12g, ô tặc cốt 12g, mẫu lệ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Cao ích mẫu, mỗi lần uống 20ml.

Thấp nhiệt: Là trường hợp rong huyết do nhiễm khuẩn. Biểu hiện rong huyết nhiều, màu đỏ tím, dính nhớt. Nếu nặng về thấp thì sắc mặt cáu vàng, miệng nhớt dính, tiểu tiện ít, tiêu chảy, rêu lưỡi trắng nhớt. Mạch nhu hoạt. Nếu nặng về nhiệt thì mình nóng, tự đổ mồ hôi, tâm phiền, đại tiện táo, tiểu tiện vàng đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi khô nhớt. Mạch trầm sác. Phép chữa: thanh nhiệt, táo thấp. Dùng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: Nếu thiên về nhiệt dùng Hoàng liên giải độc thang: hoàng liên 12g, hoàng bá 12g, hoàng cầm 12g, chi tử sao 10g. Sắc uống nguội ngày 1 thang.

Bài 2: Nếu thiên về thấp, dùng Điều kinh thăng dương trừ thấp thang: Khương hoạt 8g, thăng ma 8g, sài hồ 8g, cảo bản 6g, thương truật 8g, hoàng kỳ 8g, phòng phong 8g, cam thảo 4g, mạn kinh tử 6g, độc hoạt 6g, đương quy 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Khí uất: Biểu hiện đột nhiên ra huyết hoặc ra dầm dề không dứt, có huyết cục, bụng dưới đau lan ra mạn sườn, hay cáu giận, thở dài, rêu lưỡi dày. Mạch huyền. Phép chữa: điều khí, giải uất. Dùng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: Hương phụ 8g, bạch truật 8g, đảng sâm 12g, xuyên khung 8g, chỉ xác 6g, cỏ nhọ nồi 16g, thục địa 12g, bồ hoàng 12g. Sắc uống ngày 1 thang

Bài 2: Thục địa 8g, bạch thược, xuyên khung, đương quy đều 12g; hương phụ 8g, bạch truật 12g, đảng sâm 12g, hoàng kỳ 8g, địa du 8g, bồ hoàng 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Hư chứng: Do khí hư, dương hư, âm hư.

Khí hư: Do lao động nhiều, dinh dưỡng kém, ảnh hưởng đến khí ở tỳ, phế không nhiếp được huyết. Hoặc lo nghĩ quá độ ảnh hưởng đến tâm, tỳ. Biểu hiện: đột nhiên ra huyết nhiều hoặc ít mà không ngừng, màu đỏ nhạt, người mệt mỏi, đoản hơi, ngại nói, không muốn ăn, đại tiện lỏng, sợ lạnh, ra mồ hôi, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng. Mạch hư tế. Phép chữa: bổ khí, liễm huyết. Dùng các bài thuốc sau:

Bài 1: Hoàng kỳ 12g, nhân sâm 8g, đương quy 4g, bạch truật 8g, cam thảo 6g, trần bì 4g, thăng ma 2g, sài hồ 4g, huyết dư (tóc rối đốt cháy) 6g, ô tặc cốt 12g, mẫu lệ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Bạch truật, nhân sâm, hoàng kỳ, phục thần, đương quy, toan táo nhân, chích thảo đều 4g; viễn chí 2g, mộc hương 2g, long nhãn nhục 5 quả, sinh khương 3 lát, đại táo 4 quả, huyết dư 6g, ô tặc cốt 12g, mẫu lệ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Đảng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, thăng ma 8g, huyết dư 6g, ô tặc cốt 12g, mẫu lệ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu dùng các bài thuốc trên mà rong huyết chưa dứt thì dùng bài Cố bản chỉ băng thang: Đảng sâm 12g, thục địa 12g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, gừng khô nướng cháy 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Dương hư: Do khí hư lâu ngày làm tổn thương dương khí của mệnh môn hỏa (thận dương) làm tử cung hư hàn, không điều hòa được mạch xung, nhân. Biểu hiện băng huyết rong huyết lâu ngày, sắc mặt vàng nhợt hoặc xám, bụng dưới và ngang rốn lạnh đau, đau eo lưng, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, thích chườm nóng. Mạch trầm trì, tế, nhược
.
Phép chữa: ôn bổ thận dương. Dùng bài thuốc: Thục địa 16g, bạch thược 12g, xuyên khung 8g, xuyên quy 8g, a giao 8g, ngải cứu 12g, phụ tử chế 8g, gừng khô nướng cháy 6g, cao sừng hươu 12g.

Âm hư: âm hư gây tân dịch và âm huyết giảm sút, làm thương tổn hai mạch xung, nhâm nên rong huyết.
Biểu hiện: băng huyết, rong huyết nhiều, màu đỏ sẫm, người gầy yếu, đầu choáng, ù tai, họng khô miệng ráo, tâm phiền, lưng đau, lòng bàn tay nóng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi tróc, thường nóng về chiều (triều nhiệt). Mạch hư, tế, sác. Phép chữa: bổ âm, liễm huyết.

Bài thuốc: Thục địa 12g, hoài sơn 12g, phục linh 8g, đơn bì 8g, trạch tả 8g; ô tặc cốt, long cốt, mẫu lệ đều 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu lâu ngày âm hư gây huyết hư thì dùng: Thục địa 12g, bạch thược 10g, xuyên khung 8g, xuyên quy 8g, a giao 8g, ngải cứu 8g, quy bản 8g, thạch hộc 8g, nữ trinh tử 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Tác giả bài viết: Lương y Minh Chánh

LUONGYVIET
09-07-2014, 04:45 PM
Trang nhà chúng tôi không chấp nhận QC dưới mọi hình thức